Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2018

RAMGRAM – BẢO THÁP NGUYÊN THUỶ LƯU GIỮ XÁ-LỢI PHẬT THÍCH-CA (P. 2 )

BÀI NÀY ĐÃ ĐĂNG TRÊN NGUYỆT SAN GIÁC NGỘ
SỐ 195 - THÁNG 6/2012
PHẦN 2
III - NHỮNG GHI NHẬN TRONG LỊCH SỬ VỀ BẢO THÁP RAMGRAM
Hình Bảo Tháp Ramgram trên phù điêu ở Sanchi
    Sau khi xây dựng bảo tháp thờ phượng Xá-lợi Phật Thích-ca, Ramgram trở thành trung tâm hành hương và chiêm bái của toàn cõi Diêm-Phù-Đề (Ấn Độ).
  Như đã trình bày trong Phần 1 của bài này, chuyến viếng thăm Bảo tháp Ramagrama nhằm thu thập xá-lợi của Đại đế Ashoka đã được ghi nhận bởi hầu hết các sử liệu cổ đại. Đồng thời các sử liệu cũng ghi nhận một trong những Phật sự lớn lao của Asoka là xây dựng 84,000 bảo tháp. Trong số các bảo tháp đó, bảo tháp Sanchi tại bang Madhya Pradesh trung tâm lục địa Ấn Độ đã vượt qua sự khắc nghiệt của thời gian tồn tại cho đến ngày nay. Theo các nghiên cứu khoa học, bảo tháp Sanchi được xây dựng bởi chính Asoka vào thế kỷ thứ 3 trước Công Nguyên [chúng tôi sẽ có bài riêng về bảo tháp này trong loạt bài về Asoka]. Vào thế kỷ thứ 1 sau Công Nguyên, bốn cổng bằng đá chạm khắc tinh xảo được thêm vào cấu trúc của bảo tháp Sanchi. Thật may mắn cho tôi, khi nghiên cứu thực địa tại bảo tháp Sanchi đã tìm thấy tại đấy một phù điêu mô tả bảo tháp Ramagrama. Duyên lành! Thế là chúng ta có được một chứng cứ lịch sử bằng hình ảnh đã hai ngàn năm tuổi về hình dáng của bảo tháp Ramagrama. Phù điêu này (ở cách xa Ramagrama trên 2,000km) đã chứng tỏ địa vị và sự nổi tiếng của Ramagrama trong lịch sử Phật giáo cổ đại. Phù điêu này chính là một sử liệu độc đáo và vô giá về sự tồn tại của bảo tháp Ramagrama.
    Nguồn sử liệu khác đề cập đến Ramagrama đến từ các nhà chiêm bái Trung Hoa. Trong Phật Quốc Ký của Ngài Pháp Hiển vào thế kỷ thứ 4 sau Công Nguyên và Tây Du Ký của Ngài Huyền Trang thế kỷ thứ 7 sau Công Nguyên đều có đề cập đến Ramagrama. Chúng ta hãy đọc lại các hồi ký này:
Phật Quốc Ký – Pháp Hiển, Chương 23:

Rama [grama] và bảo tháp của nó.

Phía Đông của nơi Đức Phật đản sinh [Lumbini] ở khoảng cách 5 do-tuần có một vương quốc gọi là Rama. Vua của nước này đã được chia một phần xá-lợi Phật, mang về nước an trí và xây một bảo tháp bên trên, đặt tên là Bảo tháp Rama. Bên cạnh bảo tháp có một cái hồ, trong hồ có một vua rồng thường xuyên canh giữ bảo tháp và cúng dường xá-lợi cả ngày lẫn đêm.
Tây Du Ký – Huyền Trang, Quyển thứ  sáu, Phần 3:
3) Nước Lam Ma (Rama) bây giờ đã hoang phế không còn dấu vết gì, thành ấp đã đổ nát xiêu vẹo, người dân thưa thớt. Thành xưa ở phía đông nam có một Bảo Tháp lợp ngói cao gần 100 chi [Chi = gang tay, 100 gang tay vào khoảng 20m – chú thích của NP].
  Sau Ngài Huyền Trang không có thêm bất kỳ ghi nhận nào về Ramagrama. Lịch sử và nơi tọa lạc của Ramgram bị rơi vào quên lãng.
IV – TÁI KHÁM PHÁ BẢO THÁP RAMAGRAMA
  Hơn 1000 năm trôi qua, vào những năm cuối cùng của thế kỷ 19, trong cơn sốt nhằm tái khám phá các Phật tích ở Ấn Độ của những nhà nghiên cứu lịch sử, các “nhà khảo cổ” – thực chất là những kẻ cướp lăng mộ Tomb Raider, những kẻ hám danh muốn ghi tên vào lịch sử bằng những phát hiện chấn động… các “nhà khảo cổ” chuyên nghiệp lẫn không chuyên nghiệp của Anh sau khi càn quét Ấn Độ đã bắt đầu lấn bước sang biên giới Nepal.
  Tại Nepal, vào thời điểm ấy có một dòng họ quý tộc nắm hết quyền bính vượt cả quyền vua – dòng họ Jung Bahadur Shumsher Rana, gọi tắt là Rana. Họ tộc này thực hiện liên tiếp những vụ thảm sát đẫm máu trong cung đình hoàng gia Nepal để chiếm giữ quyền lực thực sự qua danh vị Thủ tướng truyền đời biến nhà vua thành kẻ bù nhìn trong suốt 100 năm.
   Giai đoạn hai thập niên cuối cùng của thế kỷ 19, do tranh đoạt quyền bính trong gia đình, Tướng Khadga Shumsher Rana bị em ruột mình đày đi làm Phó vương Tansen-Palpa cai quản vùng Tarai vốn là vùng rừng thiêng nước độc vào thời điểm ấy.
   Khadga Shumsher Rana là một người có tài lại rất quyết tâm hấp thụ văn hóa Tây phương, nhất là Anh Quốc, có thể coi như người có học vấn Tây phương tốt nhất Nepal lúc ấy. Tiếp xúc, giao du rộng rãi với giới chính trị và học giả của thực dân Anh tại Ấn Độ, ông ta có tham vọng trở thành người đứng đầu Nepal trên mọi lĩnh vực một ngày nào đó. Khi cơn sốt khảo cổ Phật giáo cổ đại bùng lên khắp Ấn Độ, tướng Khadga cũng chớp lấy thời cơ, mong gắn tên mình vào một sự kiện chấn động thế giới nhằm đánh bóng tên tuổi, chuẩn bị cho cuộc mưu bá đồ vương ở Nepal. Chính ông chứ không phải Tiến sĩ Fourer là người tái khám phá Lumbini và tìm ra cột đá Asoka ở đấy [Xin có một bài viết riêng về scandal này sau]. Khadga cũng chính là người tìm ra hai trụ đá Asoka khác ở quê hương Đức Phật Thích Ca tại Gotihawa và Tilaurakot.  
   Tháng Hai 1889, tướng Khadga mời hai nhà khảo cổ của chính phủ Anh Quốc thuộc địa tại Ấn Độ đến thăm một khu vực khảo cổ mới mà ông ta đang khai quật. Nhận lời mời, ngày 11/02/1889 Tiến sĩ Hoey và Bác sĩ Waddell tháp tùng Tướng Khadga Shumsher Rana từ Lumbini đi về hướng Đông Bắc đến làng Saina-Maina (ngày nay đặt tên lại là Devadaha), 56km về phía Đông Bắc Lumbini. Tướng Khadga đã tìm thấy 1 tượng Phật nhỏ và một pho tượng phụ nữ đang cho con bú tại khu vực này, làm cho ông ta tin rằng ông đã tìm ra Devadaha, thành phố thủ đô của người Kolya, nơi Hoàng hậu Maya Devi nằm mơ thấy một con voi trắng nhập thai vào bụng bà và cũng là nơi Thái tử Siddhartha đã trải qua những tuần đầu tiên tại nhà ông ngoại là Vua Suprabuddha.
Giao lộ  Parasi, nơi Dr. Hoey định hướng để tìm đến Bhaghaura

Sông Rohini, biên giới tự nhiên giữa Sakya và Kolya

Đường về Ramagrama

Cổng chào vào Ramagrama đang xây dựng năm 2011
Giao lộ đánh dấu lối rẽ vào Ramagrama đang xây dựng năm 2011

    Tiến sĩ Hoey đồng ý với lý thuyết của Tướng Khadga rằng con sông chảy ở phía Tây làng Saina-Maina chính là con sông cổ đại Rohini – biên giới tự nhiên giữa hai vương quốc Sakya và Kolya. Trong thời gian lưu lại làng Saina-Maina, Tiến sĩ Hoey được Tướng Khadga cho biết rằng dân địa phương có đề cập đến một gò đất tên là Bhaghaura. Vốn là một học giả về ngôn ngữ Ấn Độ cổ đại và nhất là lịch sử Phật giáo cổ đại, Hoey có linh tính rằng cái gò đất đó chính là bảo tháp Ramagrama tại địa phương có tên gọi nguyên thủy là Byaghapura. Đối chiếu với những ghi chép của các nhà chiêm bái Trung Hoa : cà hai đều đi về hướng Đông từ Lumbini đề đến Ramagrama, Hoey đề xuất ý tưởng rằng cái gò đất Bhaghaura chính là phần di tích còn sót lại của bảo tháp Ramagrama.
Ramagrama trải qua 2000 năm chỉ còn là một gò đất hoang tàn
  Hai ngày sau, Tiến sĩ Hoey chào từ biệt Tướng Khadga để quay về Ấn Độ – Bác sĩ Waddell đã đi Kapilavastu mấy ngày trước đó. Hoey đi theo hướng Đông Nam để đến một cái chợ nhỏ tên Parasi. Cách 7km phía Nam của thị trấn, Tiến sĩ Hoey xúc động nhìn thấy trên bờ con sông Jhalari ngự một gò tháp rộng lớn và không bị xâm phạm. Với kinh nghiệm của một học giả và nhà khảo cổ Ấn Độ cổ đại, Hoey kết luận rằng đó chính là Bảo tháp của người Kolya tại Byaghapura.

   Suốt nhiều thập niên sau đó Ramagrama lại nằm im không được chú ý bởi giới nghiên cứu khảo cổ trong và ngoài Nepal. Mãi đến năm 1964, nhà nghiên cứu S.B. Deo của Ấn Độ khảo sát khu vực này và ghi nhận nó là một gò đất đáng để khai quật khảo cổ.
  Năm 1972, Nhà khảo cổ Babu Krishna Rijal của Cục Khảo cổ Nepal và các viên chức của Lumbini Development Trust thăm viếng nơi này và thừa nhận đây chính là Ramgram căn cứ vào các đặc điểm địa lý cùng với các ghi chép của các nhà chiêm bái Trung Hoa.
 Năm 1997  một nhóm các nhà địa vật lý từ Đại học Bradford – Anh Quốc khảo sát khu vực này và tìm thấy một vài chứng tích khảo cổ bên dưới mặt đất xung quanh khu gò đất.
Tác giả tại Ramagrama năm 2009
   Các khảo sát thực địa vào những thập niên cuối thế kỷ 20 cho thấy rằng đó là một gò gạch cao 7m bị đất phủ kín trên bờ con sông Jharahi (một trong những nguồn của sông Hằng). Liệu đấy có phải là Bảo tháp nổi tiếng Ramagrama không thì chỉ có khai quật khảo cổ mới có thể xác định được.
(Còn tiếp)
Tháng 06/2012
NGUYỄN PHÚ
(Kỳ tới: Khai Quật Khảo Cổ Ramagrama đầu thế kỷ 21)