Hiển thị các bài đăng có nhãn Hindu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hindu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 2 tháng 10, 2021

Đồ ăn nấu trong đền thờ - đẳng cấp ẩm thực Ấn Độ

 


Nhiều đầu bếp nổi tiếng tại Ấn Độ đã cố gắng nấu món ăn như trong những ngôi đền ở các nhà hàng cao cấp của họ, nhưng không thành công.

Bất kỳ ngôi đền nào ở Ấn Độ, dù thành phố hay làng quê, đều có nhà bếp riêng. Đây là nơi cung cấp đồ ăn cho người dân, những người hành hương từ phương xa và cả du khách. Chỉ cần đến đây, bạn sẽ được thưởng thức những bữa ăn lành mạnh, bổ dưỡng và miễn phí mỗi ngày. Nếu tính phí thì giá của chúng cũng rất nhỏ.

Đây không phải là những bữa ăn bình thường. Điều làm nên sự khác biệt của ẩm thực trong đền, chùa chính là hương vị riêng của chúng. Và hương vị này, rất khó để bắt chước khi nấu tại các nhà hàng.

Thứ Ba, 22 tháng 12, 2020

SỔ TAY HINDU GIÁO (1)

 


TỰA SỔ TAY HINDU GIÁO 

     Các bạn thân mến,

     Từ kinh nghiệm cá nhân của một người ở thế giới bị ảnh hưởng mạnh bởi văn minh Khổng giáo, hoàn toàn mù tịt về một thế giới văn minh vĩ đại khác của châu Á , tôi nhận ra rằng mình cần phải trang bị một cách căn bản nhất kiến thức về Hindu giáo để có thể tiếp cận với một nền văn minh huy hoàng và ảnh hưởng mạnh nhất châu Á.

      Nói huy hoàng nhất vì đây là một thế giới văn minh tuôn chảy không ngừng nghỉ suốt hơn 10.000 năm với những thành quả về triết học, nhân sinh quan, đạo đức, tâm linh, nghệ thuật… không nền văn minh cổ đại nào có thể sánh được vì vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Nói ảnh hưởng mạnh nhất vì ngay cả văn minh Hoàng Hà của người Hán cũng du nhập và pha lẫn rất nhiều thành quả của văn minh Hindu (Phật giáo chẳng hạn) mà không có chiều ngược lại.

     Người Việt khi tiếp cận với thế giới Hindu giáo thường có phản ứng đôi khi cực đoan. Choáng ngợp vì đột ngột rơi vào một thế giới mà mình không có chút kiến thức nào về nó, hoặc có chút ít thông tin sai lạc kiểu truyền miệng nên tự phát một phản xạ chối bỏ, không chịu tiếp nhận vì sợ hãi bởi cái vô minh của mình, bưng mắt bịt tai trước mọi vẻ huy hoàng của nó và chỉ nhìn xuống đế giày thiên kiến của mình nhằm chứng thực những thông tin sai lạc, méo mó là có thật. Tôi lần đầu tiên đến với thế giới Hindu giáo cũng vậy, mà mới chỉ là Hindu phương xa ở tận Champa, Angkor. Còn nhớ tôi đã cười chế nhạo thế nào khi thấy người ta thờ phượng con bò, ăn bốc và trét màu lên trán.

Thứ Ba, 10 tháng 11, 2020

CHÍ TÔN CA GANDHI BÌNH GIẢI - PHẦN 1 - THÔNG ĐIỆP CỦA GITA (1)



 THÔNG ĐIỆP CỦA GITA

Tác giả: Gandhi , 1931

1.Ngay vào năm 1888-89, khi tôi lần đầu tiên làm quen với Gita, tôi đã cảm thấy rằng nó không phải là một tác phẩm lịch sử, mà dưới vỏ bọc của [một cuộc] chiến tranh vật lý, nó mô tả cuộc đấu tay đôi luôn luôn diễn ra trong tâm của nhân loại, và cuộc chiến vật lý đó chỉ được đưa vào để làm cho mô tả của cuộc đấu nội tâm trở nên hấp dẫn hơn. Trực giác sơ khai này càng được khẳng định khi nghiên cứu kỹ hơn về tôn giáo và Gita. Một nghiên cứu [của tôi] về Mahabharata càng xác nhận thêm điều đó. Tôi không coi Mahabharata là một tác phẩm lịch sử theo nghĩa thường được chấp nhận. Adiparva (phần mở đầu của Đại sử thi Mahabharata-NP) chứa đựng những chứng cứ ủng hộ cho quan điểm của tôi. Bằng cách xác định nguồn gốc siêu phàm hoặc phàm tục của các nhân vật chính, Vyasa vĩ đại (người được coi là tác giả của Mahabharata cũng như Vedas và nhiều kinh điển khác của Hindu giáo-NP) đã làm một tóm tắt về lịch sử của các vị vua và dân tộc của họ. Những người được mô tả trong [Mahabharata] có thể là nhân vật lịch sử, nhưng tác giả của Mahabharata đã sử dụng họ chỉ để hướng về chủ đề tôn giáo của mình.

2. Tác giả của Mahabharata đã không cho thấy sự cần thiết của chiến tranh vật lý; mà trái lại ông đã chứng minh sự vô ích của nó. Ông đã khiến những người chiến thắng rơi nước mắt đau khổ và ăn năn, và [sự chiến thắng] không để lại gì cho họ ngoài di sản của những khổ đau.

3.Trong công trình vĩ đại này, Gita là vương miện. Chương thứ hai của nó, thay vì dạy các quy tắc của chiến tranh vật lý, đã cho chúng ta biết làm thế nào một người đàn ông hoàn thiện được biết đến. Trong các đặc điểm của con người hoàn thiện của Gita, tôi không thấy bất kỳ điểm nào tương ứng với chiến tranh thể chất. Toàn bộ thiết kế của nó (con người hoàn thiện) không phù hợp với các quy tắc ứng xử chi phối quan hệ giữa các bên tham chiến.

4.Krishna của Gita là sự hoàn hảo và chân trí tuệ được nhân cách hóa; nhưng chỉ là hình ảnh tưởng tượng. Điều đó không có nghĩa là Krishna, người được yêu mến bởi dân tộc của ông, chưa bao giờ tồn tại. Nhưng sự hoàn hảo là tưởng tượng. Ý tưởng về một hóa thân hoàn hảo là một sự hình thành sau đó.

5.Trong Hindu giáo, hóa thân được coi là một người đã thực hiện một số công việc phi thường của nhân loại. Tất cả sự sống hiện thân đều là hóa thân của Thượng đế, nhưng không phải mọi người bình thường là một hóa thân. Các thế hệ tương lai bày tỏ lòng tôn kính này đối với một người, trong thế hệ của chính mình, đã đặc biệt tín tâm từ sự vĩ đại của Đấng Tối Cao, và không dùng bạo lực nào [để đạt] được Chân Lý. Có một câu nói tiếng Urdu có nghĩa là, "Adam không phải là Thượng đế nhưng anh ấy là một tia sáng của Thánh Thần." Và do đó, anh ta [hoá thân] -người cư xử tín tâm nhất có hầu hết tia sáng thiêng liêng trong anh ta. Theo hướng này, Krishna đã được ưa thích, trong Hindu giáo, ở địa vị của một hóa thân hoàn hảo nhất.

Thứ Hai, 9 tháng 11, 2020

GIỚI THIỆU “CHÍ TÔN CA - GANDHI BÌNH GIẢI”

 



ĐỀ DẪN CHO BẢN DỊCH 2020

   Cuối năm 2014, tôi có may mắn viếng thăm Satyagraha Ashram * (thường được biết như “Nhà Gandhi”) ở Ahmedabad, India. Thật xúc động khi đi trên những lối nhỏ trong khu vườn yên tĩnh nơi đã từng đón nhận những bước chân trầm tư của Gandhi trăm năm trước. Được tận mắt nhìn thấy cái guồng quay sợi nổi tiếng, những di vật giản dị cũ kỹ của người đàn ông bé nhỏ vĩ đại, những văn bản về bất bạo động của người hai tay không mà lật đổ cả chế độ thực dân vững chắc. Tôi cũng đã ngồi ở cái nơi mà gần trăm năm trước các đồng đạo của Gandhi đã quây quần mỗi sáng để nghe ông bình giải về Gita, được nhận lấy ngọn gió mát lành từ con sông Sabarmati sau nhà thổi tới như một lời chúc phúc. 


Nơi Gandhiji bình giải Gita mỗi buổi sáng cùng các đồng đạo

 

     Bhagavad Gita ( tiếng Sanskrit: भगवद् गीता, nghĩa tiếng Anh là "The Song of God"), là phần 700 câu  tụng ca Hindu của sử thi Mahabharata (chương 23–40), được xem là có niên đại vào thế kỷ thứ hai trước Công nguyên. Gita là cuộc đối thoại giữa hoàng tử Pandava Arjuna và người cố vấn Krishna, một hoá thân của thần Vishnu. Khi trận chiến kinh thiên động địa bắt đầu giữa hai thân tộc Pandavas và Kauravas lãnh đạo xứ Ấn Độ bấy giờ, Arjuna cảm thấy mất phương hướng vì một nghịch lý: đời sống đạo đức mà anh hướng tới và bạo lực chết chóc sẽ gây ra trong cuộc chiến chống lại thân nhân của mình. Arjuna tìm kiếm lời khuyên của Krishna, và bài diễn thuyết trả lời của Krishna chính là phần được gọi là Bhagavad Gita. 

  Ở Việt Nam, từ lâu Bhagavad Gita thường được biết với tựa đề “Chí Tôn Ca”, (một cách dịch không thể tuyệt vời hơn giống như dịch Upanishas là Áo Nghĩa Thư - NP). Người ta thường gọi tắt Chí Tôn Ca là Gita (tụng ca) bởi nó được viết bằng thể thơ ca tụng đã trở thành kinh điển cho tụng ca của xứ Ấn suốt mấy ngàn năm qua. Đối với người Ấn Độ giáo, Gita chính là một thánh kinh sáng suốt nhất hướng dẫn đời sống tâm linh, một tác phẩm triết học sâu sắc và là một cuốn sách truyền cảm hứng đáng tin cậy nhất.

Thứ Sáu, 22 tháng 3, 2019

VUI HỘI HOLI (1) : GIỚI THIỆU LỄ HỘI SẮC MÀU ĐÓN XUÂN


Ở Bắc Ấn Độ lễ hội lâu đời, phổ biến và ấn tượng nhất hàng năm chính là Holi. Lễ hội này thường được người ta gọi bằng cái tên “Lễ hội sắc màu”, năm nay bắt đầu từ ngày 20/03 kéo dài đến ngày 22/03. 
 

Photo Credit: Holi Festival of Colors | visitrenotahoe.com
Người ta cho rằng lễ hội Holi này xuất xứ từ vùng Mathura, nay thuộc tiểu bang Uttar Pradesh (Bang Hướng Bắc) của Ấn Độ. Đây chính là quê hương của Thần Krishna, vị thần phổ biến bậc nhất đối với thế giới Hindu Bắc Ấn. Thần Krishna được thờ phụng như là hoá thân của Thần Tối cao Vishnu và là vị thần của lòng từ và tình yêu.
Xuất xứ tên gọi của lễ hội Holi là từ truyền thuyết Thần Vishnu hiển lộ thần thông bảo vệ tín đồ của mình khỏi bị quỷ dữ làm hại và thiêu cháy nữ quỷ Holika. Còn nguồn gốc của phong tục nổi tiếng “xịt nước và bôi màu vào nhau” là từ những trò rắn mắt của chàng thanh niên Krishna khi chòng ghẹo nàng Radha, người sau này trở thành vợ của Krishna. Vốn dĩ Krishna có làn da sẫm màu nên trong lễ hội chàng đã dùng màu và nước màu tung vào người Radha để nàng có cùng “màu da” với mình. Về mặt thời tiết trong năm, ngày diễn ra lễ hội Holi chính là ngày Xuân Phân (năm nay 2019 là 20/03) đánh dấu bắt đầu mùa xuân, chấm dứt những ngày mùa Đông lạnh lẽo nơi xứ Ấn.

Krishna vui hội Holi cùng Radha và bạn bè

Thứ Tư, 8 tháng 8, 2018

TIẾNG HINDI (1)


Hindi là ngôn ngữ trực hệ của Sanskrit và các thổ ngữ của văn minh sông Hằng (Ganges Civilization). Tại Ấn Độ, hơn 180 triệu người Ấn xem Hindi là tiếng mẹ đẻ, 300 triệu người xem Hindi là ngôn ngữ thứ hai. Ngoài Ấn Độ, tiếng Hindi được sử dụng  bởi hang chục triệu người ở Nepal, Nam Phi, Mỹ, Đức, Uganda, Mauritius…



Hindi phát xuất từ nhóm thổ ngữ Apabhransa, những thổ ngữ bị các học giả Sanskrit cổ đại xem là “ngôn ngữ không ngữ pháp” (non-grammatical language) ở vùng dọc theo sông Hằng từ thế kỷ thứ 6 đến thế kỷ thứ 13, vốn là khu vực văn minh nhất tiểu lục địa Ấn Độ. Đây có thể coi như thứ tiếng của giới bình dân , đối lập với Sanskrit, vốn được coi là ngôn ngữ của Thần Linh và chỉ giai cấp Brahmin (Bà-la-môn) được phép sử dụng.

Thứ Hai, 5 tháng 3, 2018

NHẠC THẦN DU LÃNG GANDARVA VÀ CHIẾC SARANGI



  
Huyền thoại Ấn độ kể rằng Indra (Đế Thích, vua của cõi trời) luôn có một vị thần đi theo hầu nhạc, gọi là Nhạc Thần. Vị thần này còn có tên khác là Hương thần vì chỉ sống bằng mùi hương đồng thời thân thể cũng tỏa ra hương thơm kỳ lạ. Tên của vị thần này là Gandarva, Hán dịch là Càn Thát Bà, là một trong Thiên Long Bát Bộ mà Kim Dung mượn ý để sáng tác nên tuyệt phẩm nhất nhì của ông.
Ngày trước mình đọc huyền thoại cứ nghĩ rằng Càn Thát Bà là tiên , là thần thánh không phải người phàm, phiêu diêu thoát tục, không bao giờ có thực. Mình lầm.




Khoảng năm 2006, mình ở trọ tại khu vực ngoại ô Tokha của Kathmandu-Nepal, cửa ngõ đi vào vùng núi phía Tây Bắc thủ đô. Một trưa hè nọ, trải đệm ngoài ban công nằm lơ đãng thả hồn theo những nắm mây trời trắng bông trôi bảng lảng trên trời cao bỗng nghe tiếng réo rắt của một nhạc cụ dây hòa quyện một giọng hát dày dạn phong sương. Nhạc hay quá, mình nằm im nhắm mắt lại mà thưởng thức. Đến khi giật mình vì cảm thấy tiếng nhạc rời xa, bật ngồi dậy thì chỉ thấy một bóng người khuất dần trong ngõ hẻm quanh co.
Mình bắt đầu tò mò và dò hỏi. Đến khi phát hiện ra sự thực thì suýt nhảy cẫng lên mừng rỡ. Ở Nepal, nhất là vùng núi, có một giai cấp gọi là Gandarva (Càn Thát Bà) chuyên lang thang chơi nhạc và sống bằng sự hảo tâm của mọi người. Quả đúng thật là vị thần chơi nhạc và sống bằng hương của Đế Thích trong huyền thoại.
Một Càn Thát Bà chính hiệu


Thứ Ba, 4 tháng 7, 2017

TRANH DÂN GIAN MITHILA - TÂM HỒN THƠ MỘNG (3)



Quân đội Hoàng Gia Nepal tuần tiễu trong thời gian nội chiến

Nepal vào những năm cuối cuộc nội chiến đầy những hàng rào kẽm gai, những đồn bót chất đầy bao cát, những lính tráng mặc đồ rằn ri tay lăm lăm súng khắp mọi nơi... những hình ảnh đánh thức ký ức thơ dại của tôi về miền Nam vào thời gian cuối của cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Lúc tôi sống ở vùng Lumbini  vào những tháng cuối cùng của năm 2005, đêm đêm vẫn nghe vọng về những tiếng bom nổ ì ùm, những tiếng súng mơ hồ. Tuy nhiên, Khu Lumbini – nơi đản sinh của Đức Phật đã may mắn được các bên tham chiến ngầm thoả thuận đặt ra khỏi những trận đánh giành dân chiếm đất của tất cả các bên. Tôi sống ở Lumbini thì đã may mắn sống trong một “khu trung lập” giữa một vương quốc đang chìm vào những ngày bạo liệt nhất cuối cuộc chiến. Ngồi phía sau chiếc xe bò lọc cọc đi trên con đường làng, nhìn lại về hướng chiếc cầu vẫn còn đang toả khói đen trong bóng hoàng hôn sẫm máu, tôi chợt rùng mình. Nếu chiếc xe bus mà chúng tôi đi không dừng lại để rước thêm khách ở ngã tư vành đai hoặc thiếu vắng đi vài trạm kiểm soát dọc đường có lẽ chúng tôi đã là nạn nhân của vụ đánh bom của quân du kích Maoist. Đây là lần gần nhất mà Thần Chiến Tranh ở Nepal đã phả hơi thở giá lạnh vào tôi.

Chủ Nhật, 2 tháng 7, 2017

TRANH DÂN GIAN MITHILA - TÂM HỒN THƠ MỘNG (2)


Khai bút Mùng Một Năm Mậu Tuất 2018
Giống như thần thoại là phóng chiếu những ước mơ của con người, tranh Mithila là phóng chiếu những tưởng tượng của người Mithila một cách hồn nhiên và thơ mộng nhất. NP
    
___________________

Đám cưới Rama và Sita - Tranh dân gian Mithila
      Tôi ra đến bến xe Gongabu – bến xe mới lớn nhất của Kathmandu vào lúc 7 giờ sáng một sớm đầu Đông 2006. Ba ngày trước lễ hội Vivah Panchami- kỷ niệm đám cưới của Ram và Sita, khoảng tháng 11 Tây lịch. Quầy vé bán cho tôi một vé đi Janakpur với giá khoảng 3USD có ghi số xe, số ghế đàng hoàng. Quảy chiếc ba lô chỉ vỏn vẹn 2 bộ đồ, một hộp bánh và chai nước, tôi đi tìm số xe và leo lên một chiếc xe bus đường dài trang trí sặc sỡ như tất cả mọi chiếc xe ở Tiểu Lục Địa. Xe có hai dãy ghế, mỗi hàng 3 ghế có trùm ghế bằng vải cotton dày màu vàng. May cho tôi, số ghế của tôi ở sát cửa sổ, vị trí tôi thích ngồi dù là đi máy bay hay xe đường dài để ngắm cảnh thoải mái. Ngồi chờ khoảng nửa tiếng thì có một đôi vợ chồng già người Nepal lên ngồi cạnh tôi. Họ chừng trên dưới 70 nhưng nhìn cái cách người đàn ông ân cần, chăm chút từng ly từng tý cho bà vợ giống như một đôi uyên ương mới cưới làm tôi vô cùng ngưỡng mộ. Người đàn ông mặc quốc phục của người Nepal: nguyên bộ áo dài tay (tapalan) -quần túm ống (suruwa) bằng vải cotton trắng, ngoài khoác một gilet đen, đầu đội nón topi đen, Người phụ nữ dĩ nhiên vận bộ sari đỏ - trang phục của hàng trăm triệu phụ nữ khắp Nam Á. Với tính tình cởi mở của cả người Nepal và dân Nam Bộ, chúng tôi mau chóng làm quen với nhau. Ông bà họ Thapa (một họ thuộc giai cấp quý tộc Nepal), ông từng làm công chức cấp cao, đã nghỉ hưu và lần này họ xuống Janakpur để coi mắt cô gái họ định cưới cho con trai của họ đang ở Anh Quốc. Biết ý nguyện của tôi muốn thăm viếng và tìm hiểu quê hương của Janaki (“con gái vua Janaka”), ông Thapa hứa sẽ nhờ người địa phương giúp tôi. Đúng là duyên lành.
  Khoảng 8am, xe kín chừng 70% số ghế thì đến giờ lăn bánh; xe bus xe đò ở Nepal chấp hành “giờ lăn bánh” rất nghiêm túc, còn sau khi xe đã ra khỏi bến thì chạy nhanh chậm, dừng đỗ thế nào là tuỳ tài xế. Quả nhiên, sau khi bò một cách chậm rãi ra khỏi bến xe, chiếc xe đò lừ lừ bò đến ngã tư vành đai và nằm đó thêm gần 1 tiếng đồng hồ để bắt thêm khách cho đến khi kín cả hàng ghế phụ mà phụ xe rải giữa hai hàng ghế chính nó mới chính thức bắt đầu cuộc chạy nước rút về Janakpur. Thời chiến tranh loạn lạc nên cứ chừng 30-40km là có một trạm lính chặn đường. Xe phải dừng để toàn bộ hành khách xuống xe đi bộ vào trạm để xét từng người một, vài anh lính leo lên xe coi xét cẩn thận hành lý xem có bom mìn vũ khí gì không rồi chiếc xe mới chạy qua trạm gác quá 20 mét. Lúc ấy hành khách mới lục tục leo lên xe. Tài xế nhấn hết ga trên đoạn đường rất ít xe cộ giữa hai trạm gác để rồi chu kỳ ấy lại lặp lại sau 30-40km. Thế nên, đến quá Ngọ xe mới đi hết đoạn 100km đèo dốc hiểm trở xuyên qua dãy Terai để đến khu vực Vườn Quốc Gia Chitwal hai bên là rừng rậm diện tích hơn 1000km vuông. Không khí trên xe trở nên căng thẳng, không một ai trò chuyện, nói năng, tài xế nhấn hết ga chạy vùn vụt trên đường quốc lộ Đông - Tây (East-West Highway) vắng lặng các phương tiện xe cộ chỉ có các nhóm quân lính mặc đồ rằn ri đi tuần tiễu hai bên đường. Đây là khu vực quân đội Maoist hoạt động mạnh mẽ nhất; nếu gặp xe dân sự thì chặn lại cướp hết tư trang tiền bạc, nếu thấy xe quân sự thì tấn công tiêu diệt sạch đến người cuối cùng. Tôi vẫn còn nhớ thi thoảng bên vệ đường là những chiếc xe cháy đen trơ khung rất ám ảnh.

Chủ Nhật, 25 tháng 12, 2016

ĐÔNG TÂY GIAO THOA



Bài đã đăng trên Nhịp Cầu Thế Giới - Hungary
Thứ tư - 27/04/2016 14:30

"Tây Phương đã có một mô hình về động cơ tâm lý của con người từ năm 1943 tức chỉ trên dưới 70 năm tính tới nay. Nhưng thật khó tin là Đông Phương đã chuẩn hóa mô hình Tháp Maslow này ít nhất là hơn 2.000 năm trước." 
                                                                             Nguyễn Phú
                                                                         **************

Đông là Đông và Tây là Tây
và cả hai không bao giờ gặp nhau
Cho đến khi Đất và Trời hiện diện trước Ngôi Phán Xét của Thượng Đế.

(“Bài Ballad của Đông và Tây” - Rudyard Kipling, 1889)

Đây là những câu thơ thường được trích dẫn đến mức trở thành sáo ngữ khi có ai đó muốn nói về sự khác biệt không thể dung hòa giữa hai nền văn hoá Đông và Tây. Điều này có thể đúng nhưng cũng có thể chưa chính xác, thậm chí là hoàn toàn sai lạc trong một số trường hợp. Trường hợp mà chúng tôi muốn đề cập đến ở đây là Tháp Nhu Cầu nổi tiếng của Abraham Maslow (The Needs’ Hierarchy of Maslow) và Purusartha “mục tiêu của đời người” (aims of human life) của Văn Minh Ấn Độ.

Bên trái là Tháp Nhu cầu Maslow - Bên phải là Tháp Mục tiêu đời người của Ấn Độ

Thứ Hai, 28 tháng 12, 2015

TRANH DÂN GIAN MITHILA – TÂM HỒN THƠ MỘNG



“I try to apply colors like words that shape poems, like notes that shape music. ”
- Joan Miro

“Tôi cố gắng ghép các màu sắc [vào bức tranh] giống như các từ tạo nên bài thơ, giống như các nốt tạo nên bản nhạc” Joan Miro- Danh hoạ Tây Ban Nha thế kỷ 20
____________
 Hội hoạ là môn nghệ thuật vô thanh.
Thế nhưng, với những danh hoạ như Joan Miro hay Picasso, tranh vẽ của họ lại rộn vang âm thanh bởi những sắc màu mang đầy “tiếng” của cuộc đời.
Ở Vương quốc Mithila ngày xưa, ngày nay bị chia đôi bởi biên giới hai nước Nepal và Ấn Độ, có một dòng nghệ thuật cổ xưa lại cất tiếng ca hát, mộng mơ như thế trước cả Joan Miro và Picasso nhiều thiên niên kỷ. Dòng tranh dân gian Mithila hay còn gọi là Madhubani, lấy theo tên một làng ngày ngay nằm ở bang Bihar thuộc India.
Ghép từ nhiều trích đoạn của các tranh Mithila

  Ngắm nhìn tranh Mithila, người xem chừng như có thể thấy được những vũ điệu mê hồn của màu và sắc, có thể nghe được tiếng nhạc lạc quan yêu đời của con người và thiên nhiên Ấn Độ và có thể cảm được cái chính xác nhất là “Tâm Hồn Ấn Độ” - Soul of India, mà không một dòng tranh nào của Ấn Độ có thể làm được.
  Ngây thơ và hồn nhiên.
  Tranh Mithila phô bày được cái “bản thể nguyên sơ” của tâm hồn con người. Phô bày được khoảnh khắc đầu tiên con người xúc động trước Cái Đẹp và tìm cách lưu nó lại để thưởng thức.

Chủ Nhật, 29 tháng 11, 2015

THẦN TƯỢNG CỦA TỔNG THỐNG OBAMA?

Đó là Mahatma Gandhi!

nh hưởng bi thn tượng đu tiên ca mình là Mc sư Martin L. King-mt người vô cùng ngưỡng m Gandhi, Obamađã xem Gandhi là ngun cm hng cho s nghip chính tr ca mình.L ra phi nói rng ”mt trong nhng thn tượng”, nhưng tôi li cm thy rng Gandhi đã ngày càng tr thành thn tượng chính, là ngun cm hng cho Obama.
Gandhi đã là nguồn cảm hứng cho Martin L. King trước kia
Năm 2009, trong din văn nhn gii Nobel Hoà Bình, Tng thng Obama đã hai ln nhc đến tên ca Mc sư Martin L. King và Gandhi.

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2015

HỌC THUẬT VÀ VĂN HOÁ CỦA ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI

Từ thời cổ đại, 5000 Trước CN , Ấn Độ đã có một nên văn hoá cao, phát triển rực rỡ suốt nhiều ngàn năm sau đó – Văn Hoá Vệ Đà (Veda).








 Thuở đó, một người được coi là có học vấn phải hiểu biết 14 VIDYAS – Khoa Học như sau:
14 Vidyas: 4 Vedas, 4 Upa Veda, 6 Vedangas
Thần Sáng Tạo Brahman - Người truyền trao 4 Vedas cho loài người 
4 Vedas
1.                         RigVeda
2.                         SamVeda
3.                         YajurVeda
4.                         AtharvaVeda

4 UpaVedas
1.                         ArthaShastra: luận về chính quyền, chính sách kinh tế chiến lược quân sự.
2.                         Dhanurveda: Thuật bắn cung
3.                         GandharvaVeda: luận về nghệ thuật biểu diễn, bao gồm nhà hát, múa và âm nhạc.
4.                         Ayurveda: Y học cổ truyền

Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2015

AYURVEDA - NỀN Y HỌC CỔ TRUYỀN ẤN ĐỘ

Thế giới có nhiều nền y học cổ truyền như Trung Quốc, Ai Cập... Nhưng một nên y học cổ truyền ảnh hưởng toàn bộ lên đời sống từ thức ăn, thức uống, sinh hoạt có lẽ chỉ có Ayurveda của Ấn Độ. Thức ăn đầy gia vị, chính là Ayurveda. Thức uống như một ly trà sữa thơm nồng gia vị cũng chính là Ayurveda. Chữa trị dĩ nhiên là đầy gia vị và thậm chí dùng gia vị để phòng ngừa bệnh tật thì đúng là Ayurveda.
Khó mà tóm tắt một truyền thống vĩ đại đã có vài ngàn năm lịch sử, tác giả chỉ mạn phép gom góp chút ít kiến thức thu nhặt tại Ấn Độ vào trong vài bài về chủ đề Ayurveda hầu bạn đọc. Mong quý bạn đọc hoan hỉ chỉ bảo nếu có gì sơ sót. Đa tạ. - Nguyễn Phú
                            
>>>>>>>>>>>>>>>
BÀI 1: TỔNG QUÁT

  Ayurveda (tính từ là Ayurvedic) là nền y học cổ truyền của Ấn Độ mà nguồn gốc  có thể lên đến 5000 năm tuổi. Nền y học độc đáo này tập trung nhiều hơn vào cuộc sống khỏe mạnh hơn là điều trị bệnh. Về mặt từ nguyên, Ayurveda là sự kết hợp của hai từ tiếng Phạn AYUR – SỰ SỐNG và VEDA – KIẾN THỨC ; nên có thể dịch Ayurveda là “ Kiến Thức Về Sự Sống”Những ý niệm đầu tiên về Ayurveda được ghi nhận trong Athartaveda- một trong bốn bộ Veda chứa đựng toàn bộ trí tuệ và văn hoá của  Ấn Độ cổ đại.

 Ayurveda chia thành 8 chuyên ngành, gọi là ASHTANGAS:


1. Kaya Chikitsa (Nội Khoa): Kaya có nghĩa là cơ thể người sống. Điều trị này bao gồm tất cả các bệnh nằm trong cơ thể.
2. Shalya Tantra (Phẫu thuật): Mô tả về các thủ tục trước khi phẫu thuật, thủ tục chung, thủ tục sau phẫu thuật, gây mê và các điểm yếu. Phần này cũng mô tả về các loại băng, dụng cụ sắc nhọn, dụng cụ cùn và chỉ khâu.
3. Bhuta Vidya (
Tâm thần): chữa bệnh tinh thần.
4. Shalakya Tantra (Điều trị các bệnh trên xương đòn): 
Đây là một nhánh của khoa tai mũi họng và nhãn khoa.
5. Agada Tantra (
Độc chất): điều trị ngộ độc thực phẩm, rắn cắn, côn trùng cắn, chó cắn vv
6. Kaumarabhritya Tantra (
Nhi khoa): sức khỏe và các bệnh liên quan đến trẻ em.
7. Vajikarana (
Thanh lọc cơ thể): Các liệu pháp thanh lọc cơ thể như: massage, liệu pháp dầu, liệu pháp sữa, liệu pháp dược thảo…
8. Rasayana Tantra (
Vệ sinh phòng dịch): phòng chống dịch bệnh và cải thiện khả năng miễn dịch và trẻ hóa.

Có ba văn bản Ayurved
a chính là Charak Samhita, Sushrut Samhita và Ashtangha Hridaya Samhita. Sushrut Samhita, chứa đựng lời dạy của Sushruta (sư tổ Ayurveda của Ấn Độ) chứa 184 chương và mô tả của 1.120 bệnh, 700 cây thuốc, 64 chế phẩm từ nguồn khoáng sản và 57 nguyên liệu từ nguồn động vật. Charaka Samhita, được viết bởi Charaka được cho là tài liệu tham khảo kinh điển chính, cung cấp cho sự nhấn mạnh đến 3 đặc tính của mỗi người: thể xácthần kinh và tâm thứcTác phẩm thứ ba Ashtanga Hridaya thực chất là một phiên bản ngắn gọn về các tác phẩm của Charaka và Sushruta.

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2015

CÔ DÂU 8 TUỔI và HÔN NHÂN KIỂU ẤN

 Khán giả Việt vẫn còn chưa hết sốt  bộ phim truyền hình của India "Cô Dâu 8 tuổi" dù đã sang đến tập 45- phần 4 (khoảng 400 tập phim đã chiếu cho đến nay; và nghe đâu phía sản xuất vẫn đang cho ra lò đều đặn sau 2800 tập đã chiếu trên truyền hình India). Dù là người cuồng văn hoá Ấn, nhưng tôi vẫn không đủ kiên nhẫn để theo dõi các tập phim được làm theo kiểu "masala" chỉ sử dụng kỹ thuật zoom và pan từ gương mặt này qua gương mặt khác. Ngược lại, bà xã tôi thì dù không thích thú cho lắm khi thăm viếng India lại cứ dính chặt vào kênh TodayTV từ 8pm đến 10pm mỗi tối bất chấp tất cả bão giông, nước lụt cả "Thành Hồ" vẫn phải lặn lội về xem không sót tập nào hi hi hi :)
  Hôn Nhân là rất quan trọng trong văn hoá Ấn. Nam nữ sống chung không hôn nhân-lễ cưới là điều không thể chấp nhận đối với xã hội Ấn. Người Ấn gọi hôn nhân là Vivāha (Sanskrit) hoặc Vivaah (Hindi: विवाह) và nó được xem là một thánh lễ kết nối suốt đời người vợ và chồng, không thể phá bỏ vì các lý do trần thế.  Xin mạn phép điểm qua những hình thức hôn nhân của người Ấn để các bạn tham khảo và có thể cảm thấy thú vị thêm khi hiểu về phong tục cưới xin Ấn Độ trong lúc xem những bộ phim Ấn.

1/ BRAHMA VIVAAH: là hình thức hôn nhân xếp cao nhất với chàng trai và cô gái ở cùng một đẳng cấp, xuất thân trong những gia đình tốt (giai cấp cao, địa vị cao, giàu có, có học vấn...). Chàng trai nhất thiết phải hoàn thành Brahmacharya asrama , tức phải đến thọ giáo và ăn ở tại nhà một đạo sư (guru) Hindu từ lúc 5-8 tuổi cho đến khi trưởng thành 20-25 tuổi (thời hiện đại thì phải hoàn thành phổ thông hay tốt nhất là đại học). Suốt thời gian đó, chàng trai phải sống độc thân, học và hành Dharma ( nguyên tắc sống đúng đắn trong đời). Dharma dạy người ta phải có trách nhiệm với chính anh ta, với gia đình, xã hội, nhân loại và Thần Linh (bao gồm cả môi trường, trái đất và thiên nhiên). Điều hay ho của hình thức hôn nhân này là đàng trai sẽ không đòi hỏi của hồi môn từ phía đàng gái; cô dâu chỉ việc mang theo vài bộ quần áo và trang sức của cô về nhà chồng. Lý do của việc này được giải thích bằng nghi thức Kanyadaan (Kanya = cô gái đồng trinh; Daan = quà tặng) trong hôn lễ.
Nghi thức này là cao trào của hôn lễ diễn ra bằng hình thức cha cô dâu sẽ cầm tay phải của cô trao tặng vào tay phải của chú rể trong khi mẹ cô dâu rót nước thiêng vào lòng bàn tay họ. Trong khi các thầy cúng Hindu đọc kinh  thì cha cô dâu yêu cầu chú rể hứa rằng chàng phải cùng với con gái ông ta theo đuổi để đạt được 4 mục tiêu tối thượng của một người Hindu là : Dharma (đời sống đạo đức),  Artha (sự thịnh vượng, sung túc) , Kama (lạc thú trần gian) và Moksa (sự thăng hoa của tâm linh).

Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2015

UPANISHAD-- MINH TRIẾT ẤN ĐỘ

Có một khổ thơ ám ảnh tôi suốt hơn 25 năm nay, ngay từ lần đầu tiên đọc được những câu chữ huyền ảo ấy vào những ngày tháng cuối ở trường đại học.

    “Ở đó mặt trời không soi sáng, mặt trăng không lộng lẫy, ngàn sao hoá mù loà;
  ở đó những làn chớp này không bừng lên mà cũng chẳng có thứ lửa trần nào.
    Bởi mọi cái rực rỡ đều chỉ là bóng mờ sự rực rỡ của nó mà chính nhờ ánh sáng mà mọi cái này phát sáng.”

  Đây là khổ thứ 10 trong chương II của Mukunda Upanishad được dịch sang tiếng Việt bởi Thạch Trung Giả từ bản dịch sang tiếng Pháp của ông Jean Herbert theo bản dịch từ Sanskrit sang tiếng Anh của Đạo sư Aurobindo. Bản này được NXB An Tiêm xuất bản năm 1972; ngày nay đã trở thành quý hiếm vì hầu như không thể tìm kiếm (tôi đã nhờ nhiều chủ tiệm chuyên buôn bán sách cũ trước 1975 ở Saigon tìm giúp và sẵn lòng mua lại với giá cao từ bốn năm nay, nhưng không có kết quả).  

Bản tiếng Anh do Đạo sư  Swami Krishnananda dịch từ bản văn Sanskrit như sau:

Mantra No. 10: There the sun does not shine, nor the
moon and the stars; nor even these lightnings; what to
speak of this fire; everything shines after Him who shines.
By His light this whole universe is illuminated.
SECOND KHANDA – SECOND MUNDAKA
Translated to English by Sri Swami Krishnananda

Áo Nghĩa Thư – kinh thư có nghĩa lý uyên áo- là một danh từ thông dụng của những nhà Phật học Việt Nam dịch nghĩa từ Upanishad của Ấn Độ. Đây là một cách dịch hoàn hảo bởi đã đạt được sự hợp nhất giữa cách dịch nghĩa từ Upanishad và phiên âm theo chữ Hán.
Lời tựa của Thạch Trung Giả giải thích rằng: Ấn Độ có ba dòng lớn về Triết Đạo là Bà-la-môn giáo [Hindu], Kỳ-na giáo [Jain] và Phật giáo. Trong lòng Bà-la-môn giáo lại có sáu phái mà quan trọng nhất là hai phái Số luận (Sâmkhya) và Vệ-Đàn-Đà (Védânta) nghĩa là Viên thành Vệ Đà. Theo đa số người Ấn và các học giả trên thế giới thì Vệ Đàn Đà được coi như tiêu biểu cho tư tưởng Ấn Độ, là cái phần tinh tuý nhất mà văn hoá Ấn Độ cung hiến cho nhân loại.

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2015

10 PHONG TỤC HINDU PHỔ BIẾN CỦA NGƯỜI ẤN

Người ở ngoài thế giới Hindu  thường nhìn những phong tục của người Ấn Độ chủ yếu là mê tín dị đoan. Thực ra, các phong tục đó hình thành dựa trên một cơ sở khoa học có thể giải thích bằng khoa học hiện đại, mặc dù đa số người Ấn thường không biết tính khoa học của các phong tục này. Không phải ngẫu nhiên mà các phong tục này đã tồn tại và truyền trao qua nhiều thiên niên kỷ.
 ___________

1/ Chấp hai tay lại để chào đón: NAMASKAR – NAMASTE

Trong văn hóa Hindu, mọi người chào nhau bằng cách chấp bàn tay của mình vào nhau và nói: ". Namaskar" hay “Namaste”. Lý do chung của hành động này có nghĩa là tôn trọng. Tuy nhiên, về mặt khoa học, chấp cả hai tay với tất cả các ngón tay sát với nhau sẽ tạo thành một điểm tiếp xúc giữa mắt, tai, và tâm trí; kích hoạt các điểm thần kinh nhạy cảm để giúp chúng ta nhớ người đó trong một thời gian dài. Và quan trọng không kém về mặt vệ sinh là sẽ không có lây lan vi trùng, vi khuẩn khi hai người chào nhau vì không thực hiện bất kỳ tiếp xúc vật lý nào giữa hai người. Điều này rất quan trọng trong điều kiện vệ sinh ở Ấn Độ.

2/ Búi tóc sau đầu người đàn ông Hindu: SHIKHA
 
Người nam Hindu cũng thường cạo tóc, nhất là khi thực hiện việc hiếu, tang, hay cầu nguyện với thần linh điều gì đó. Tuy nhiên khác với người theo Phật Giáo cạo hết cả tóc trên đầu, người đàn ông Hindu khi cạo thì chừa lại túm tóc ở ngay điểm chính giữa bên trên gáy (thường là phần xoáy tóc). Điểm này là nơi nhạy cảm nhất của sọ người, gọi là Adhipati Marma, nơi tập trung tất cả các dây thần kinh. Trong Yoga, đây là luân xa thứ bảy Brahmarandhra, tượng trưng như hoa sen ngàn cánh. Đây là trung tâm của sự khôn ngoan. Các Shikha thắt nút (búi tóc trên đầu) giúp tăng cường trung tâm này và bảo tồn năng lượng tinh tế của nó (Ojas).

3/Chấm Tilak giữa trán
Trên trán, giữa hai lông mày, có một điểm từ thời cổ đại đã được coi như là điểm thần kinh quan trọng trong cơ thể con người . Người Ấn thường dùng màu đỏ chấm vào điểm này và gọi điểm màu đỏ ấy là “Tilak”. Người ngoài thế giới Hindu thường hiểu sai lầm rằng đó là một cách trang điểm của người Ấn. Thực ra, ý nghĩa của các Tilak phức tạp hơn nhiều. Tilak được cho là để ngăn chặn sự mất mát "năng lượng" của cơ thể con người, Trong khi đặt tilak màu đỏ lên trên khu vực giữa lông mày , luân xa Adnya-chakra được kích thích giữ lại năng lượng trong cơ thể con người và kiểm soát các cấp độ khác nhau của sự tập trung. Điều này cũng tạo điều kiện cho việc cung cấp máu cho các cơ mặt.

Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2015

NAMASKAR INDIA!

Tại Buddhist Cave-Kanheri,
Sanjay Gandhi National Park, Mumbai, 

Tháng 9/2014
Kính chào các bạn thân mến!
India là một vùng đất mà tôi đã mơ về từ khi còn ấu thơ. Có lẽ ám ảnh bởi các bộ truyện tranh về cuộc đời Đức Phật Sakya. Có lẽ những mạch ngầm của văn minh India từ thời cổ đại thấm đẫm Phù Nam, Champa, Đại Việt giờ bắt đầu nảy mầm đón nắng. Hoặc cũng có lẽ , nói theo thuyết Samsara (luân hồi), có một linh hồn người Ấn đã phiêu bạt đến trời Nam.
 Ám ảnh ấy ngày càng đậm nét sau khi tôi được đọc " Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam" của Bình Nguyên Lộc. Lớn dần lên trong tôi một sự thôi thúc tìm về nguồn cội. Cơ duyên đã đưa đẩy để từ năm 2005 tôi đến được Nepal, một vùng đất ảnh hưởng sâu sắc văn hoá India. Chín năm ở Nepal đã cung cấp cho tôi những kiến thức cơ bản để có thể dấn bước trên con đường mà tôi đã chọn như là định mệnh của đời mình: tìm hiểu về văn hoá India.

  Tôi đã bắt đầu nghiên cứu về India song song với việc nghiên cứu Nepal từ những năm đầu tiên ở Tiểu lục địa India. Tuy vậy, mãi đến cuối năm 2011, khi tham dự Hội Nghị Phật Giáo Toàn Cầu lần 1 ở New Delhi tôi mới chính thức đi những bước đầu tiên vào việc nghiên cứu India. Chuyến đi thực tế kéo dài hơn tháng sau khi kết thúc Hội Nghị qua vùng bờ biển phía Đông và vùng Trung Ấn thăm viếng các di tích Sanchi, Kalinga, Khajuraho, Varanasi,Bodh Gaya... các tiểu bang Delhi, Uttar Pradesh, Bihar, West Bengal, Orissa, Madya Pradesh... đã làm cho tôi càng thêm choáng ngợp trước một nền văn minh kỳ vĩ. Kể từ đó, mỗi năm tôi đều có ít nhất hai lần đến India, mỗi lần ba bốn tuần kéo dài có khi đến gần hai tháng, để nghiên cứu thực tế India.