
Có một khổ thơ ám ảnh tôi suốt hơn 25 năm nay, ngay từ lần
đầu tiên đọc được những câu chữ huyền ảo ấy vào những ngày tháng cuối ở trường
đại học.
“Ở đó mặt trời không soi sáng, mặt trăng không lộng lẫy,
ngàn sao hoá mù loà;
ở đó những làn chớp
này không bừng lên mà cũng chẳng có thứ lửa trần nào.
Bởi mọi cái rực rỡ
đều chỉ là bóng mờ sự rực rỡ của nó mà chính nhờ ánh sáng mà mọi cái này phát sáng.”
Đây là khổ thứ 10
trong chương II của Mukunda Upanishad được dịch sang tiếng Việt bởi Thạch Trung
Giả từ bản dịch sang tiếng Pháp của ông Jean Herbert theo bản dịch từ Sanskrit sang tiếng
Anh của Đạo sư Aurobindo. Bản này được NXB An Tiêm xuất bản năm 1972; ngày nay đã
trở thành quý hiếm vì hầu như không thể tìm kiếm (tôi đã nhờ nhiều chủ tiệm
chuyên buôn bán sách cũ trước 1975 ở Saigon tìm giúp và sẵn lòng mua lại với
giá cao từ bốn năm nay, nhưng không có kết quả).
Bản tiếng Anh do Đạo sư Swami Krishnananda dịch từ bản văn Sanskrit
như sau:
Mantra No. 10: There the sun does not shine, nor the
moon and the stars; nor even these lightnings; what to
speak of this fire; everything shines after Him who shines.
By His light this whole universe is illuminated.
SECOND KHANDA – SECOND MUNDAKA
Translated to English by Sri Swami Krishnananda
Áo Nghĩa Thư – kinh thư có nghĩa lý uyên áo- là một danh từ
thông dụng của những nhà Phật học Việt Nam dịch nghĩa từ Upanishad của Ấn Độ.
Đây là một cách dịch hoàn hảo bởi đã đạt được sự hợp nhất giữa cách dịch nghĩa
từ Upanishad và phiên âm theo chữ Hán.
Lời tựa của Thạch Trung Giả giải thích rằng: Ấn Độ có ba
dòng lớn về Triết Đạo là Bà-la-môn giáo [Hindu], Kỳ-na giáo [Jain] và Phật
giáo. Trong lòng Bà-la-môn giáo lại có sáu phái mà quan trọng nhất là hai phái
Số luận (Sâmkhya) và Vệ-Đàn-Đà (Védânta) nghĩa là Viên thành Vệ Đà. Theo đa số
người Ấn và các học giả trên thế giới thì Vệ Đàn Đà được coi như tiêu biểu cho
tư tưởng Ấn Độ, là cái phần tinh tuý nhất mà văn hoá Ấn Độ cung hiến cho nhân
loại.