Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh Điển. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh Điển. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 19 tháng 5, 2021

JAIN – KỲ NA GIÁO, TÔN GIÁO ĐẶC SẮC CỦA INDIA (KỲ 1)

 

 ĐỀN KỲ NA GIÁO PARSVANATH Ở KHAJURAHO, MADYA PRADESH

Đến India, có lẽ nhiều người đã từng viếng thăm một số ngôi đền có trang trí tường ngoài bằng những phù điệu hoặc tượng tròn cực kỳ sống động với sự thờ phượng chính ở trong là một hoặc nhiều pho tượng chế tác tuyệt mỹ bằng cẩm thạch mô tả một hình tượng ngồi kiết già tư thế hoa sen giống hệt tượng Phật, chỉ duy nhất tượng đó hoàn toàn loã thể, có cả bộ phận sinh dục không che đậy. Đó là đền thờ đạo Jain.


TƯỢNG GIÁO CHỦ KỲ NA GIÁO MAHAVIRA


Jain  (Hán Việt phiên âm là Kỳ Na Giáo) là một tôn giáo xưa cổ, đặc sắc và chỉ riêng có ở India cho đến tận ngày nay. Vào thời cổ đại, khoảng hơn 2500 năm trước, Jain là một trong ba tôn giáo lớn nhất India cùng với Hindu, Phật giáo. Ngài Mahavira -Giáo chủ đời thứ 24 của Jain là một người cùng thời với Đức Phật Sakya Muni, và nhập Niết bàn trước khi Siddhartha giác ngộ thành Phật dưới cội bồ đề ở Bodhgaya.

Thứ Ba, 22 tháng 12, 2020

SỔ TAY HINDU GIÁO (1)

 


TỰA SỔ TAY HINDU GIÁO 

     Các bạn thân mến,

     Từ kinh nghiệm cá nhân của một người ở thế giới bị ảnh hưởng mạnh bởi văn minh Khổng giáo, hoàn toàn mù tịt về một thế giới văn minh vĩ đại khác của châu Á , tôi nhận ra rằng mình cần phải trang bị một cách căn bản nhất kiến thức về Hindu giáo để có thể tiếp cận với một nền văn minh huy hoàng và ảnh hưởng mạnh nhất châu Á.

      Nói huy hoàng nhất vì đây là một thế giới văn minh tuôn chảy không ngừng nghỉ suốt hơn 10.000 năm với những thành quả về triết học, nhân sinh quan, đạo đức, tâm linh, nghệ thuật… không nền văn minh cổ đại nào có thể sánh được vì vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Nói ảnh hưởng mạnh nhất vì ngay cả văn minh Hoàng Hà của người Hán cũng du nhập và pha lẫn rất nhiều thành quả của văn minh Hindu (Phật giáo chẳng hạn) mà không có chiều ngược lại.

     Người Việt khi tiếp cận với thế giới Hindu giáo thường có phản ứng đôi khi cực đoan. Choáng ngợp vì đột ngột rơi vào một thế giới mà mình không có chút kiến thức nào về nó, hoặc có chút ít thông tin sai lạc kiểu truyền miệng nên tự phát một phản xạ chối bỏ, không chịu tiếp nhận vì sợ hãi bởi cái vô minh của mình, bưng mắt bịt tai trước mọi vẻ huy hoàng của nó và chỉ nhìn xuống đế giày thiên kiến của mình nhằm chứng thực những thông tin sai lạc, méo mó là có thật. Tôi lần đầu tiên đến với thế giới Hindu giáo cũng vậy, mà mới chỉ là Hindu phương xa ở tận Champa, Angkor. Còn nhớ tôi đã cười chế nhạo thế nào khi thấy người ta thờ phượng con bò, ăn bốc và trét màu lên trán.

Thứ Ba, 10 tháng 11, 2020

CHÍ TÔN CA GANDHI BÌNH GIẢI - PHẦN 1 - THÔNG ĐIỆP CỦA GITA (1)



 THÔNG ĐIỆP CỦA GITA

Tác giả: Gandhi , 1931

1.Ngay vào năm 1888-89, khi tôi lần đầu tiên làm quen với Gita, tôi đã cảm thấy rằng nó không phải là một tác phẩm lịch sử, mà dưới vỏ bọc của [một cuộc] chiến tranh vật lý, nó mô tả cuộc đấu tay đôi luôn luôn diễn ra trong tâm của nhân loại, và cuộc chiến vật lý đó chỉ được đưa vào để làm cho mô tả của cuộc đấu nội tâm trở nên hấp dẫn hơn. Trực giác sơ khai này càng được khẳng định khi nghiên cứu kỹ hơn về tôn giáo và Gita. Một nghiên cứu [của tôi] về Mahabharata càng xác nhận thêm điều đó. Tôi không coi Mahabharata là một tác phẩm lịch sử theo nghĩa thường được chấp nhận. Adiparva (phần mở đầu của Đại sử thi Mahabharata-NP) chứa đựng những chứng cứ ủng hộ cho quan điểm của tôi. Bằng cách xác định nguồn gốc siêu phàm hoặc phàm tục của các nhân vật chính, Vyasa vĩ đại (người được coi là tác giả của Mahabharata cũng như Vedas và nhiều kinh điển khác của Hindu giáo-NP) đã làm một tóm tắt về lịch sử của các vị vua và dân tộc của họ. Những người được mô tả trong [Mahabharata] có thể là nhân vật lịch sử, nhưng tác giả của Mahabharata đã sử dụng họ chỉ để hướng về chủ đề tôn giáo của mình.

2. Tác giả của Mahabharata đã không cho thấy sự cần thiết của chiến tranh vật lý; mà trái lại ông đã chứng minh sự vô ích của nó. Ông đã khiến những người chiến thắng rơi nước mắt đau khổ và ăn năn, và [sự chiến thắng] không để lại gì cho họ ngoài di sản của những khổ đau.

3.Trong công trình vĩ đại này, Gita là vương miện. Chương thứ hai của nó, thay vì dạy các quy tắc của chiến tranh vật lý, đã cho chúng ta biết làm thế nào một người đàn ông hoàn thiện được biết đến. Trong các đặc điểm của con người hoàn thiện của Gita, tôi không thấy bất kỳ điểm nào tương ứng với chiến tranh thể chất. Toàn bộ thiết kế của nó (con người hoàn thiện) không phù hợp với các quy tắc ứng xử chi phối quan hệ giữa các bên tham chiến.

4.Krishna của Gita là sự hoàn hảo và chân trí tuệ được nhân cách hóa; nhưng chỉ là hình ảnh tưởng tượng. Điều đó không có nghĩa là Krishna, người được yêu mến bởi dân tộc của ông, chưa bao giờ tồn tại. Nhưng sự hoàn hảo là tưởng tượng. Ý tưởng về một hóa thân hoàn hảo là một sự hình thành sau đó.

5.Trong Hindu giáo, hóa thân được coi là một người đã thực hiện một số công việc phi thường của nhân loại. Tất cả sự sống hiện thân đều là hóa thân của Thượng đế, nhưng không phải mọi người bình thường là một hóa thân. Các thế hệ tương lai bày tỏ lòng tôn kính này đối với một người, trong thế hệ của chính mình, đã đặc biệt tín tâm từ sự vĩ đại của Đấng Tối Cao, và không dùng bạo lực nào [để đạt] được Chân Lý. Có một câu nói tiếng Urdu có nghĩa là, "Adam không phải là Thượng đế nhưng anh ấy là một tia sáng của Thánh Thần." Và do đó, anh ta [hoá thân] -người cư xử tín tâm nhất có hầu hết tia sáng thiêng liêng trong anh ta. Theo hướng này, Krishna đã được ưa thích, trong Hindu giáo, ở địa vị của một hóa thân hoàn hảo nhất.

Thứ Hai, 9 tháng 11, 2020

GIỚI THIỆU “CHÍ TÔN CA - GANDHI BÌNH GIẢI”

 



ĐỀ DẪN CHO BẢN DỊCH 2020

   Cuối năm 2014, tôi có may mắn viếng thăm Satyagraha Ashram * (thường được biết như “Nhà Gandhi”) ở Ahmedabad, India. Thật xúc động khi đi trên những lối nhỏ trong khu vườn yên tĩnh nơi đã từng đón nhận những bước chân trầm tư của Gandhi trăm năm trước. Được tận mắt nhìn thấy cái guồng quay sợi nổi tiếng, những di vật giản dị cũ kỹ của người đàn ông bé nhỏ vĩ đại, những văn bản về bất bạo động của người hai tay không mà lật đổ cả chế độ thực dân vững chắc. Tôi cũng đã ngồi ở cái nơi mà gần trăm năm trước các đồng đạo của Gandhi đã quây quần mỗi sáng để nghe ông bình giải về Gita, được nhận lấy ngọn gió mát lành từ con sông Sabarmati sau nhà thổi tới như một lời chúc phúc. 


Nơi Gandhiji bình giải Gita mỗi buổi sáng cùng các đồng đạo

 

     Bhagavad Gita ( tiếng Sanskrit: भगवद् गीता, nghĩa tiếng Anh là "The Song of God"), là phần 700 câu  tụng ca Hindu của sử thi Mahabharata (chương 23–40), được xem là có niên đại vào thế kỷ thứ hai trước Công nguyên. Gita là cuộc đối thoại giữa hoàng tử Pandava Arjuna và người cố vấn Krishna, một hoá thân của thần Vishnu. Khi trận chiến kinh thiên động địa bắt đầu giữa hai thân tộc Pandavas và Kauravas lãnh đạo xứ Ấn Độ bấy giờ, Arjuna cảm thấy mất phương hướng vì một nghịch lý: đời sống đạo đức mà anh hướng tới và bạo lực chết chóc sẽ gây ra trong cuộc chiến chống lại thân nhân của mình. Arjuna tìm kiếm lời khuyên của Krishna, và bài diễn thuyết trả lời của Krishna chính là phần được gọi là Bhagavad Gita. 

  Ở Việt Nam, từ lâu Bhagavad Gita thường được biết với tựa đề “Chí Tôn Ca”, (một cách dịch không thể tuyệt vời hơn giống như dịch Upanishas là Áo Nghĩa Thư - NP). Người ta thường gọi tắt Chí Tôn Ca là Gita (tụng ca) bởi nó được viết bằng thể thơ ca tụng đã trở thành kinh điển cho tụng ca của xứ Ấn suốt mấy ngàn năm qua. Đối với người Ấn Độ giáo, Gita chính là một thánh kinh sáng suốt nhất hướng dẫn đời sống tâm linh, một tác phẩm triết học sâu sắc và là một cuốn sách truyền cảm hứng đáng tin cậy nhất.

Thứ Tư, 8 tháng 8, 2018

TIẾNG HINDI (1)


Hindi là ngôn ngữ trực hệ của Sanskrit và các thổ ngữ của văn minh sông Hằng (Ganges Civilization). Tại Ấn Độ, hơn 180 triệu người Ấn xem Hindi là tiếng mẹ đẻ, 300 triệu người xem Hindi là ngôn ngữ thứ hai. Ngoài Ấn Độ, tiếng Hindi được sử dụng  bởi hang chục triệu người ở Nepal, Nam Phi, Mỹ, Đức, Uganda, Mauritius…



Hindi phát xuất từ nhóm thổ ngữ Apabhransa, những thổ ngữ bị các học giả Sanskrit cổ đại xem là “ngôn ngữ không ngữ pháp” (non-grammatical language) ở vùng dọc theo sông Hằng từ thế kỷ thứ 6 đến thế kỷ thứ 13, vốn là khu vực văn minh nhất tiểu lục địa Ấn Độ. Đây có thể coi như thứ tiếng của giới bình dân , đối lập với Sanskrit, vốn được coi là ngôn ngữ của Thần Linh và chỉ giai cấp Brahmin (Bà-la-môn) được phép sử dụng.

Chủ Nhật, 25 tháng 12, 2016

ĐÔNG TÂY GIAO THOA



Bài đã đăng trên Nhịp Cầu Thế Giới - Hungary
Thứ tư - 27/04/2016 14:30

"Tây Phương đã có một mô hình về động cơ tâm lý của con người từ năm 1943 tức chỉ trên dưới 70 năm tính tới nay. Nhưng thật khó tin là Đông Phương đã chuẩn hóa mô hình Tháp Maslow này ít nhất là hơn 2.000 năm trước." 
                                                                             Nguyễn Phú
                                                                         **************

Đông là Đông và Tây là Tây
và cả hai không bao giờ gặp nhau
Cho đến khi Đất và Trời hiện diện trước Ngôi Phán Xét của Thượng Đế.

(“Bài Ballad của Đông và Tây” - Rudyard Kipling, 1889)

Đây là những câu thơ thường được trích dẫn đến mức trở thành sáo ngữ khi có ai đó muốn nói về sự khác biệt không thể dung hòa giữa hai nền văn hoá Đông và Tây. Điều này có thể đúng nhưng cũng có thể chưa chính xác, thậm chí là hoàn toàn sai lạc trong một số trường hợp. Trường hợp mà chúng tôi muốn đề cập đến ở đây là Tháp Nhu Cầu nổi tiếng của Abraham Maslow (The Needs’ Hierarchy of Maslow) và Purusartha “mục tiêu của đời người” (aims of human life) của Văn Minh Ấn Độ.

Bên trái là Tháp Nhu cầu Maslow - Bên phải là Tháp Mục tiêu đời người của Ấn Độ

Chủ Nhật, 29 tháng 11, 2015

THẦN TƯỢNG CỦA TỔNG THỐNG OBAMA?

Đó là Mahatma Gandhi!

nh hưởng bi thn tượng đu tiên ca mình là Mc sư Martin L. King-mt người vô cùng ngưỡng m Gandhi, Obamađã xem Gandhi là ngun cm hng cho s nghip chính tr ca mình.L ra phi nói rng ”mt trong nhng thn tượng”, nhưng tôi li cm thy rng Gandhi đã ngày càng tr thành thn tượng chính, là ngun cm hng cho Obama.
Gandhi đã là nguồn cảm hứng cho Martin L. King trước kia
Năm 2009, trong din văn nhn gii Nobel Hoà Bình, Tng thng Obama đã hai ln nhc đến tên ca Mc sư Martin L. King và Gandhi.

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2015

HỌC THUẬT VÀ VĂN HOÁ CỦA ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI

Từ thời cổ đại, 5000 Trước CN , Ấn Độ đã có một nên văn hoá cao, phát triển rực rỡ suốt nhiều ngàn năm sau đó – Văn Hoá Vệ Đà (Veda).








 Thuở đó, một người được coi là có học vấn phải hiểu biết 14 VIDYAS – Khoa Học như sau:
14 Vidyas: 4 Vedas, 4 Upa Veda, 6 Vedangas
Thần Sáng Tạo Brahman - Người truyền trao 4 Vedas cho loài người 
4 Vedas
1.                         RigVeda
2.                         SamVeda
3.                         YajurVeda
4.                         AtharvaVeda

4 UpaVedas
1.                         ArthaShastra: luận về chính quyền, chính sách kinh tế chiến lược quân sự.
2.                         Dhanurveda: Thuật bắn cung
3.                         GandharvaVeda: luận về nghệ thuật biểu diễn, bao gồm nhà hát, múa và âm nhạc.
4.                         Ayurveda: Y học cổ truyền

Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2015

AYURVEDA - NỀN Y HỌC CỔ TRUYỀN ẤN ĐỘ

Thế giới có nhiều nền y học cổ truyền như Trung Quốc, Ai Cập... Nhưng một nên y học cổ truyền ảnh hưởng toàn bộ lên đời sống từ thức ăn, thức uống, sinh hoạt có lẽ chỉ có Ayurveda của Ấn Độ. Thức ăn đầy gia vị, chính là Ayurveda. Thức uống như một ly trà sữa thơm nồng gia vị cũng chính là Ayurveda. Chữa trị dĩ nhiên là đầy gia vị và thậm chí dùng gia vị để phòng ngừa bệnh tật thì đúng là Ayurveda.
Khó mà tóm tắt một truyền thống vĩ đại đã có vài ngàn năm lịch sử, tác giả chỉ mạn phép gom góp chút ít kiến thức thu nhặt tại Ấn Độ vào trong vài bài về chủ đề Ayurveda hầu bạn đọc. Mong quý bạn đọc hoan hỉ chỉ bảo nếu có gì sơ sót. Đa tạ. - Nguyễn Phú
                            
>>>>>>>>>>>>>>>
BÀI 1: TỔNG QUÁT

  Ayurveda (tính từ là Ayurvedic) là nền y học cổ truyền của Ấn Độ mà nguồn gốc  có thể lên đến 5000 năm tuổi. Nền y học độc đáo này tập trung nhiều hơn vào cuộc sống khỏe mạnh hơn là điều trị bệnh. Về mặt từ nguyên, Ayurveda là sự kết hợp của hai từ tiếng Phạn AYUR – SỰ SỐNG và VEDA – KIẾN THỨC ; nên có thể dịch Ayurveda là “ Kiến Thức Về Sự Sống”Những ý niệm đầu tiên về Ayurveda được ghi nhận trong Athartaveda- một trong bốn bộ Veda chứa đựng toàn bộ trí tuệ và văn hoá của  Ấn Độ cổ đại.

 Ayurveda chia thành 8 chuyên ngành, gọi là ASHTANGAS:


1. Kaya Chikitsa (Nội Khoa): Kaya có nghĩa là cơ thể người sống. Điều trị này bao gồm tất cả các bệnh nằm trong cơ thể.
2. Shalya Tantra (Phẫu thuật): Mô tả về các thủ tục trước khi phẫu thuật, thủ tục chung, thủ tục sau phẫu thuật, gây mê và các điểm yếu. Phần này cũng mô tả về các loại băng, dụng cụ sắc nhọn, dụng cụ cùn và chỉ khâu.
3. Bhuta Vidya (
Tâm thần): chữa bệnh tinh thần.
4. Shalakya Tantra (Điều trị các bệnh trên xương đòn): 
Đây là một nhánh của khoa tai mũi họng và nhãn khoa.
5. Agada Tantra (
Độc chất): điều trị ngộ độc thực phẩm, rắn cắn, côn trùng cắn, chó cắn vv
6. Kaumarabhritya Tantra (
Nhi khoa): sức khỏe và các bệnh liên quan đến trẻ em.
7. Vajikarana (
Thanh lọc cơ thể): Các liệu pháp thanh lọc cơ thể như: massage, liệu pháp dầu, liệu pháp sữa, liệu pháp dược thảo…
8. Rasayana Tantra (
Vệ sinh phòng dịch): phòng chống dịch bệnh và cải thiện khả năng miễn dịch và trẻ hóa.

Có ba văn bản Ayurved
a chính là Charak Samhita, Sushrut Samhita và Ashtangha Hridaya Samhita. Sushrut Samhita, chứa đựng lời dạy của Sushruta (sư tổ Ayurveda của Ấn Độ) chứa 184 chương và mô tả của 1.120 bệnh, 700 cây thuốc, 64 chế phẩm từ nguồn khoáng sản và 57 nguyên liệu từ nguồn động vật. Charaka Samhita, được viết bởi Charaka được cho là tài liệu tham khảo kinh điển chính, cung cấp cho sự nhấn mạnh đến 3 đặc tính của mỗi người: thể xácthần kinh và tâm thứcTác phẩm thứ ba Ashtanga Hridaya thực chất là một phiên bản ngắn gọn về các tác phẩm của Charaka và Sushruta.

Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2015

UPANISHAD-- MINH TRIẾT ẤN ĐỘ

Có một khổ thơ ám ảnh tôi suốt hơn 25 năm nay, ngay từ lần đầu tiên đọc được những câu chữ huyền ảo ấy vào những ngày tháng cuối ở trường đại học.

    “Ở đó mặt trời không soi sáng, mặt trăng không lộng lẫy, ngàn sao hoá mù loà;
  ở đó những làn chớp này không bừng lên mà cũng chẳng có thứ lửa trần nào.
    Bởi mọi cái rực rỡ đều chỉ là bóng mờ sự rực rỡ của nó mà chính nhờ ánh sáng mà mọi cái này phát sáng.”

  Đây là khổ thứ 10 trong chương II của Mukunda Upanishad được dịch sang tiếng Việt bởi Thạch Trung Giả từ bản dịch sang tiếng Pháp của ông Jean Herbert theo bản dịch từ Sanskrit sang tiếng Anh của Đạo sư Aurobindo. Bản này được NXB An Tiêm xuất bản năm 1972; ngày nay đã trở thành quý hiếm vì hầu như không thể tìm kiếm (tôi đã nhờ nhiều chủ tiệm chuyên buôn bán sách cũ trước 1975 ở Saigon tìm giúp và sẵn lòng mua lại với giá cao từ bốn năm nay, nhưng không có kết quả).  

Bản tiếng Anh do Đạo sư  Swami Krishnananda dịch từ bản văn Sanskrit như sau:

Mantra No. 10: There the sun does not shine, nor the
moon and the stars; nor even these lightnings; what to
speak of this fire; everything shines after Him who shines.
By His light this whole universe is illuminated.
SECOND KHANDA – SECOND MUNDAKA
Translated to English by Sri Swami Krishnananda

Áo Nghĩa Thư – kinh thư có nghĩa lý uyên áo- là một danh từ thông dụng của những nhà Phật học Việt Nam dịch nghĩa từ Upanishad của Ấn Độ. Đây là một cách dịch hoàn hảo bởi đã đạt được sự hợp nhất giữa cách dịch nghĩa từ Upanishad và phiên âm theo chữ Hán.
Lời tựa của Thạch Trung Giả giải thích rằng: Ấn Độ có ba dòng lớn về Triết Đạo là Bà-la-môn giáo [Hindu], Kỳ-na giáo [Jain] và Phật giáo. Trong lòng Bà-la-môn giáo lại có sáu phái mà quan trọng nhất là hai phái Số luận (Sâmkhya) và Vệ-Đàn-Đà (Védânta) nghĩa là Viên thành Vệ Đà. Theo đa số người Ấn và các học giả trên thế giới thì Vệ Đàn Đà được coi như tiêu biểu cho tư tưởng Ấn Độ, là cái phần tinh tuý nhất mà văn hoá Ấn Độ cung hiến cho nhân loại.