Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2018

RAMGRAM – BẢO THÁP NGUYÊN THUỶ LƯU GIỮ XÁ-LỢI PHẬT THÍCH-CA (P. 2 )

BÀI NÀY ĐÃ ĐĂNG TRÊN NGUYỆT SAN GIÁC NGỘ
SỐ 195 - THÁNG 6/2012
PHẦN 2
III - NHỮNG GHI NHẬN TRONG LỊCH SỬ VỀ BẢO THÁP RAMGRAM
Hình Bảo Tháp Ramgram trên phù điêu ở Sanchi
    Sau khi xây dựng bảo tháp thờ phượng Xá-lợi Phật Thích-ca, Ramgram trở thành trung tâm hành hương và chiêm bái của toàn cõi Diêm-Phù-Đề (Ấn Độ).
  Như đã trình bày trong Phần 1 của bài này, chuyến viếng thăm Bảo tháp Ramagrama nhằm thu thập xá-lợi của Đại đế Ashoka đã được ghi nhận bởi hầu hết các sử liệu cổ đại. Đồng thời các sử liệu cũng ghi nhận một trong những Phật sự lớn lao của Asoka là xây dựng 84,000 bảo tháp. Trong số các bảo tháp đó, bảo tháp Sanchi tại bang Madhya Pradesh trung tâm lục địa Ấn Độ đã vượt qua sự khắc nghiệt của thời gian tồn tại cho đến ngày nay. Theo các nghiên cứu khoa học, bảo tháp Sanchi được xây dựng bởi chính Asoka vào thế kỷ thứ 3 trước Công Nguyên [chúng tôi sẽ có bài riêng về bảo tháp này trong loạt bài về Asoka]. Vào thế kỷ thứ 1 sau Công Nguyên, bốn cổng bằng đá chạm khắc tinh xảo được thêm vào cấu trúc của bảo tháp Sanchi. Thật may mắn cho tôi, khi nghiên cứu thực địa tại bảo tháp Sanchi đã tìm thấy tại đấy một phù điêu mô tả bảo tháp Ramagrama. Duyên lành! Thế là chúng ta có được một chứng cứ lịch sử bằng hình ảnh đã hai ngàn năm tuổi về hình dáng của bảo tháp Ramagrama. Phù điêu này (ở cách xa Ramagrama trên 2,000km) đã chứng tỏ địa vị và sự nổi tiếng của Ramagrama trong lịch sử Phật giáo cổ đại. Phù điêu này chính là một sử liệu độc đáo và vô giá về sự tồn tại của bảo tháp Ramagrama.

Thứ Ba, 6 tháng 3, 2018

VÌ SAO GỌI LÀ: HINDU (ẤN ĐỘ)



MỘT SỐ CHÚ GIẢI CHO ẤN ĐỘ HỌC TIẾNG VIỆT

GLOSSARY FOR VIETNAMESE INDOLOGY


VÌ SAO GỌI LÀ:  HINDU (ẤN ĐỘ)

Danh từ “Hindu” (Hán Việt: Ấn Độ) có nguồn gốc từ thời Vedic (1500-600BC) với cụm từ Vedic Sanskrit: Sapta Sindhavas – vùng đất của bảy nhánh sông Sindhus (Indus); bao gồm Đông Afghanistan, Kashmir và Punjab. Đây là quê hương của những người tự gọi mình là Arya (người quý phái, tuyệt hảo). Sau này những xứ bên ngoài gọi những người sống ở vùng đất của bảy nhánh sông Sindhus là: Sindhus. Tiếng Ba tư cổ (Old Persian) biến Sindh thành Hind và từ Hindus đã thay thế Sindhus để chỉ người sống ở vùng sông Indus, và vùng ấy gọi là Hindustan theo tiếng Ba tư. Hindus và Hindustan càng được củng cố trong lịch sử và địa lý sau khi Hồi giáo xâm chiếm và cai trị Ấn Độ từ thế kỷ 13.

Thứ Hai, 5 tháng 3, 2018

NHẠC THẦN DU LÃNG GANDARVA VÀ CHIẾC SARANGI



  
Huyền thoại Ấn độ kể rằng Indra (Đế Thích, vua của cõi trời) luôn có một vị thần đi theo hầu nhạc, gọi là Nhạc Thần. Vị thần này còn có tên khác là Hương thần vì chỉ sống bằng mùi hương đồng thời thân thể cũng tỏa ra hương thơm kỳ lạ. Tên của vị thần này là Gandarva, Hán dịch là Càn Thát Bà, là một trong Thiên Long Bát Bộ mà Kim Dung mượn ý để sáng tác nên tuyệt phẩm nhất nhì của ông.
Ngày trước mình đọc huyền thoại cứ nghĩ rằng Càn Thát Bà là tiên , là thần thánh không phải người phàm, phiêu diêu thoát tục, không bao giờ có thực. Mình lầm.




Khoảng năm 2006, mình ở trọ tại khu vực ngoại ô Tokha của Kathmandu-Nepal, cửa ngõ đi vào vùng núi phía Tây Bắc thủ đô. Một trưa hè nọ, trải đệm ngoài ban công nằm lơ đãng thả hồn theo những nắm mây trời trắng bông trôi bảng lảng trên trời cao bỗng nghe tiếng réo rắt của một nhạc cụ dây hòa quyện một giọng hát dày dạn phong sương. Nhạc hay quá, mình nằm im nhắm mắt lại mà thưởng thức. Đến khi giật mình vì cảm thấy tiếng nhạc rời xa, bật ngồi dậy thì chỉ thấy một bóng người khuất dần trong ngõ hẻm quanh co.
Mình bắt đầu tò mò và dò hỏi. Đến khi phát hiện ra sự thực thì suýt nhảy cẫng lên mừng rỡ. Ở Nepal, nhất là vùng núi, có một giai cấp gọi là Gandarva (Càn Thát Bà) chuyên lang thang chơi nhạc và sống bằng sự hảo tâm của mọi người. Quả đúng thật là vị thần chơi nhạc và sống bằng hương của Đế Thích trong huyền thoại.
Một Càn Thát Bà chính hiệu


Thứ Tư, 28 tháng 2, 2018

HOLI- LỄ HỘI VUI NHỘN NHẤT BẮC ẤN (1)




Ở Ấn Độ, hầu như các lễ hội bản địa (trừ lễ hội Hồi Giáo) đều gắn liền với một vị thần linh. Holi- Lễ hội sắc màu (Color Festival) cũng không ngoại lệ. Đây là một lễ hội phổ biến bậc nhất của Hindu giáo Bắc Ấn, có nguồn gốc từ thời Mahabharata (1000 năm trước Công nguyên). Lễ hội Holi phổ biến có lẽ vì nó gắn liền với huyền thoại của thần Krishna- một trong các vị thần phổ biến và được yêu mến nhất của thế giới Hindu.

  Lần đầu tôi được biết đến Holi là vào năm 2006 với một ấn tượng cực mạnh làm cho tôi không thể nào quên. Sáng ấy tôi vừa đứng bấm chuông ở cổng nhà gia đình Shakya mà tôi vừa mới quen chừng 6 tháng thì một thùng nước lạnh từ trên sân thượng đổ ụp xuống. Vừa lạnh (vừa hết mùa Đông) vừa quê, vừa tức (vì bị chơi khăm) tôi ngoác miệng nhìn lên định chửi thề (bằng tiếng Việt để người Nepal không biết) thì bị chặn lại bằng một tràng cười vui nhộn của cả đám trẻ con gần chục đứa của nhà Shakya. Bọn nhóc la ầm lên “Holi... Holi...” rất phấn khích.

Thứ Ba, 4 tháng 7, 2017

TRANH DÂN GIAN MITHILA - TÂM HỒN THƠ MỘNG (3)



Quân đội Hoàng Gia Nepal tuần tiễu trong thời gian nội chiến

Nepal vào những năm cuối cuộc nội chiến đầy những hàng rào kẽm gai, những đồn bót chất đầy bao cát, những lính tráng mặc đồ rằn ri tay lăm lăm súng khắp mọi nơi... những hình ảnh đánh thức ký ức thơ dại của tôi về miền Nam vào thời gian cuối của cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Lúc tôi sống ở vùng Lumbini  vào những tháng cuối cùng của năm 2005, đêm đêm vẫn nghe vọng về những tiếng bom nổ ì ùm, những tiếng súng mơ hồ. Tuy nhiên, Khu Lumbini – nơi đản sinh của Đức Phật đã may mắn được các bên tham chiến ngầm thoả thuận đặt ra khỏi những trận đánh giành dân chiếm đất của tất cả các bên. Tôi sống ở Lumbini thì đã may mắn sống trong một “khu trung lập” giữa một vương quốc đang chìm vào những ngày bạo liệt nhất cuối cuộc chiến. Ngồi phía sau chiếc xe bò lọc cọc đi trên con đường làng, nhìn lại về hướng chiếc cầu vẫn còn đang toả khói đen trong bóng hoàng hôn sẫm máu, tôi chợt rùng mình. Nếu chiếc xe bus mà chúng tôi đi không dừng lại để rước thêm khách ở ngã tư vành đai hoặc thiếu vắng đi vài trạm kiểm soát dọc đường có lẽ chúng tôi đã là nạn nhân của vụ đánh bom của quân du kích Maoist. Đây là lần gần nhất mà Thần Chiến Tranh ở Nepal đã phả hơi thở giá lạnh vào tôi.

Chủ Nhật, 2 tháng 7, 2017

TRANH DÂN GIAN MITHILA - TÂM HỒN THƠ MỘNG (2)


Khai bút Mùng Một Năm Mậu Tuất 2018
Giống như thần thoại là phóng chiếu những ước mơ của con người, tranh Mithila là phóng chiếu những tưởng tượng của người Mithila một cách hồn nhiên và thơ mộng nhất. NP
    
___________________

Đám cưới Rama và Sita - Tranh dân gian Mithila
      Tôi ra đến bến xe Gongabu – bến xe mới lớn nhất của Kathmandu vào lúc 7 giờ sáng một sớm đầu Đông 2006. Ba ngày trước lễ hội Vivah Panchami- kỷ niệm đám cưới của Ram và Sita, khoảng tháng 11 Tây lịch. Quầy vé bán cho tôi một vé đi Janakpur với giá khoảng 3USD có ghi số xe, số ghế đàng hoàng. Quảy chiếc ba lô chỉ vỏn vẹn 2 bộ đồ, một hộp bánh và chai nước, tôi đi tìm số xe và leo lên một chiếc xe bus đường dài trang trí sặc sỡ như tất cả mọi chiếc xe ở Tiểu Lục Địa. Xe có hai dãy ghế, mỗi hàng 3 ghế có trùm ghế bằng vải cotton dày màu vàng. May cho tôi, số ghế của tôi ở sát cửa sổ, vị trí tôi thích ngồi dù là đi máy bay hay xe đường dài để ngắm cảnh thoải mái. Ngồi chờ khoảng nửa tiếng thì có một đôi vợ chồng già người Nepal lên ngồi cạnh tôi. Họ chừng trên dưới 70 nhưng nhìn cái cách người đàn ông ân cần, chăm chút từng ly từng tý cho bà vợ giống như một đôi uyên ương mới cưới làm tôi vô cùng ngưỡng mộ. Người đàn ông mặc quốc phục của người Nepal: nguyên bộ áo dài tay (tapalan) -quần túm ống (suruwa) bằng vải cotton trắng, ngoài khoác một gilet đen, đầu đội nón topi đen, Người phụ nữ dĩ nhiên vận bộ sari đỏ - trang phục của hàng trăm triệu phụ nữ khắp Nam Á. Với tính tình cởi mở của cả người Nepal và dân Nam Bộ, chúng tôi mau chóng làm quen với nhau. Ông bà họ Thapa (một họ thuộc giai cấp quý tộc Nepal), ông từng làm công chức cấp cao, đã nghỉ hưu và lần này họ xuống Janakpur để coi mắt cô gái họ định cưới cho con trai của họ đang ở Anh Quốc. Biết ý nguyện của tôi muốn thăm viếng và tìm hiểu quê hương của Janaki (“con gái vua Janaka”), ông Thapa hứa sẽ nhờ người địa phương giúp tôi. Đúng là duyên lành.
  Khoảng 8am, xe kín chừng 70% số ghế thì đến giờ lăn bánh; xe bus xe đò ở Nepal chấp hành “giờ lăn bánh” rất nghiêm túc, còn sau khi xe đã ra khỏi bến thì chạy nhanh chậm, dừng đỗ thế nào là tuỳ tài xế. Quả nhiên, sau khi bò một cách chậm rãi ra khỏi bến xe, chiếc xe đò lừ lừ bò đến ngã tư vành đai và nằm đó thêm gần 1 tiếng đồng hồ để bắt thêm khách cho đến khi kín cả hàng ghế phụ mà phụ xe rải giữa hai hàng ghế chính nó mới chính thức bắt đầu cuộc chạy nước rút về Janakpur. Thời chiến tranh loạn lạc nên cứ chừng 30-40km là có một trạm lính chặn đường. Xe phải dừng để toàn bộ hành khách xuống xe đi bộ vào trạm để xét từng người một, vài anh lính leo lên xe coi xét cẩn thận hành lý xem có bom mìn vũ khí gì không rồi chiếc xe mới chạy qua trạm gác quá 20 mét. Lúc ấy hành khách mới lục tục leo lên xe. Tài xế nhấn hết ga trên đoạn đường rất ít xe cộ giữa hai trạm gác để rồi chu kỳ ấy lại lặp lại sau 30-40km. Thế nên, đến quá Ngọ xe mới đi hết đoạn 100km đèo dốc hiểm trở xuyên qua dãy Terai để đến khu vực Vườn Quốc Gia Chitwal hai bên là rừng rậm diện tích hơn 1000km vuông. Không khí trên xe trở nên căng thẳng, không một ai trò chuyện, nói năng, tài xế nhấn hết ga chạy vùn vụt trên đường quốc lộ Đông - Tây (East-West Highway) vắng lặng các phương tiện xe cộ chỉ có các nhóm quân lính mặc đồ rằn ri đi tuần tiễu hai bên đường. Đây là khu vực quân đội Maoist hoạt động mạnh mẽ nhất; nếu gặp xe dân sự thì chặn lại cướp hết tư trang tiền bạc, nếu thấy xe quân sự thì tấn công tiêu diệt sạch đến người cuối cùng. Tôi vẫn còn nhớ thi thoảng bên vệ đường là những chiếc xe cháy đen trơ khung rất ám ảnh.

Thứ Sáu, 19 tháng 5, 2017

BÀI HỌC QUẢN TRỊ THẤT BẠI CỦA TÀI PHIỆT GAUTAM ADANI



 
GAUTAM ADANI - một câu chuyện truyền cảm hứng
Gautam Adani là một tài phiệt được xếp hạng giàu thứ 13 tại Ấn Độ với tài sản ước tính khoảng 6 tỷ USD. Tuy nhiên, trong giới tinh hoa của Ấn Độ người ta ngầm coi Adani- cánh tay phải và là người bạn thân tín lâu năm của Thủ tướng Narendra Modi – mới chính là người-có-quyền-lực-nhất trong nền kinh tế Ấn Độ hiện tại. Vậy cái gì đã tạo nên thành công cho người đàn ông xuất thân từ tầng lớp bình dân, phải bỏ học để kiếm sống từ thuở chưa đến hai mươi tuổi?
   Đó chính là khả năng QUẢN TRỊ THẤT BẠI  của Gautam Adani.
(đang biên tập lại, mời các bạn xem vào ngày mai 31/01/2018)

Chủ Nhật, 25 tháng 12, 2016

ĐÔNG TÂY GIAO THOA



Bài đã đăng trên Nhịp Cầu Thế Giới - Hungary
Thứ tư - 27/04/2016 14:30

"Tây Phương đã có một mô hình về động cơ tâm lý của con người từ năm 1943 tức chỉ trên dưới 70 năm tính tới nay. Nhưng thật khó tin là Đông Phương đã chuẩn hóa mô hình Tháp Maslow này ít nhất là hơn 2.000 năm trước." 
                                                                             Nguyễn Phú
                                                                         **************

“Đông là Đông và Tây là Tây
và cả hai không bao giờ gặp nhau
Cho đến khi Đất và Trời hiện diện trước Ngôi Phán Xét của Thượng Đế.
”
(“Bài Ballad của Đông và Tây” - Rudyard Kipling, 1889)

Đây là những câu thơ thường được trích dẫn đến mức trở thành sáo ngữ khi có ai đó muốn nói về sự khác biệt không thể dung hòa giữa hai nền văn hoá Đông và Tây. Điều này có thể đúng nhưng cũng có thể chưa chính xác, thậm chí là hoàn toàn sai lạc trong một số trường hợp. Trường hợp mà chúng tôi muốn đề cập đến ở đây là Tháp Nhu Cầu nổi tiếng của Abraham Maslow (The Needs’ Hierarchy of Maslow) và Purusartha “mục tiêu của đời người” (aims of human life) của Văn Minh Ấn Độ.

Bên trái là Tháp Nhu cầu Maslow - Bên phải là Tháp Mục tiêu đời người của Ấn Độ

Thứ Hai, 28 tháng 12, 2015

TRANH DÂN GIAN MITHILA – TÂM HỒN THƠ MỘNG



“I try to apply colors like words that shape poems, like notes that shape music. ”
- Joan Miro

“Tôi cố gắng ghép các màu sắc [vào bức tranh] giống như các từ tạo nên bài thơ, giống như các nốt tạo nên bản nhạc” Joan Miro- Danh hoạ Tây Ban Nha thế kỷ 20
____________
 Hội hoạ là môn nghệ thuật vô thanh.
Thế nhưng, với những danh hoạ như Joan Miro hay Picasso, tranh vẽ của họ lại rộn vang âm thanh bởi những sắc màu mang đầy “tiếng” của cuộc đời.
Ở Vương quốc Mithila ngày xưa, ngày nay bị chia đôi bởi biên giới hai nước Nepal và Ấn Độ, có một dòng nghệ thuật cổ xưa lại cất tiếng ca hát, mộng mơ như thế trước cả Joan Miro và Picasso nhiều thiên niên kỷ. Dòng tranh dân gian Mithila hay còn gọi là Madhubani, lấy theo tên một làng ngày ngay nằm ở bang Bihar thuộc India.
Ghép từ nhiều trích đoạn của các tranh Mithila

  Ngắm nhìn tranh Mithila, người xem chừng như có thể thấy được những vũ điệu mê hồn của màu và sắc, có thể nghe được tiếng nhạc lạc quan yêu đời của con người và thiên nhiên Ấn Độ và có thể cảm được cái chính xác nhất là “Tâm Hồn Ấn Độ” - Soul of India, mà không một dòng tranh nào của Ấn Độ có thể làm được.
  Ngây thơ và hồn nhiên.
  Tranh Mithila phô bày được cái “bản thể nguyên sơ” của tâm hồn con người. Phô bày được khoảnh khắc đầu tiên con người xúc động trước Cái Đẹp và tìm cách lưu nó lại để thưởng thức.

Chủ Nhật, 29 tháng 11, 2015

THẦN TƯỢNG CỦA TỔNG THỐNG OBAMA?

Đó là Mahatma Gandhi!

Ảnh hưởng bởi thần tượng đầu tiên của mình là Mục sư Martin L. King-một người vô cùng ngưỡng mộ Gandhi, Obamađã xem Gandhi là nguồn cảm hứng cho sự nghiệp chính trị của mình.Lẽ ra phải nói rằng ”một trong những thần tượng”, nhưng tôi lại cảm thấy rằng Gandhi đã ngày càng trở thành thần tượng chính, là nguồn cảm hứng cho Obama.
Gandhi đã là nguồn cảm hứng cho Martin L. King trước kia
Năm 2009, trong diễn văn nhận giải Nobel Hoà Bình, Tổng thống Obama đã hai lần nhắc đến tên của Mục sư Martin L. King và Gandhi.

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2015

HỌC THUẬT VÀ VĂN HOÁ CỦA ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI

Từ thời cổ đại, 5000 Trước CN , Ấn Độ đã có một nên văn hoá cao, phát triển rực rỡ suốt nhiều ngàn năm sau đó – Văn Hoá Vệ Đà (Veda).








 Thuở đó, một người được coi là có học vấn phải hiểu biết 14 VIDYAS – Khoa Học như sau:
14 Vidyas: 4 Vedas, 4 Upa Veda, 6 Vedangas
Thần Sáng Tạo Brahman - Người truyền trao 4 Vedas cho loài người 
4 Vedas
1.                         RigVeda
2.                         SamVeda
3.                         YajurVeda
4.                         AtharvaVeda

4 UpaVedas
1.                         ArthaShastra: luận về chính quyền, chính sách kinh tế và chiến lược quân sự.
2.                         Dhanurveda: Thuật bắn cung
3.                         GandharvaVeda: luận về nghệ thuật biểu diễn, bao gồm nhà hát, múa và âm nhạc.
4.                         Ayurveda: Y học cổ truyền

Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2015

AYURVEDA - NỀN Y HỌC CỔ TRUYỀN ẤN ĐỘ

Thế giới có nhiều nền y học cổ truyền như Trung Quốc, Ai Cập... Nhưng một nên y học cổ truyền ảnh hưởng toàn bộ lên đời sống từ thức ăn, thức uống, sinh hoạt có lẽ chỉ có Ayurveda của Ấn Độ. Thức ăn đầy gia vị, chính là Ayurveda. Thức uống như một ly trà sữa thơm nồng gia vị cũng chính là Ayurveda. Chữa trị dĩ nhiên là đầy gia vị và thậm chí dùng gia vị để phòng ngừa bệnh tật thì đúng là Ayurveda.
Khó mà tóm tắt một truyền thống vĩ đại đã có vài ngàn năm lịch sử, tác giả chỉ mạn phép gom góp chút ít kiến thức thu nhặt tại Ấn Độ vào trong vài bài về chủ đề Ayurveda hầu bạn đọc. Mong quý bạn đọc hoan hỉ chỉ bảo nếu có gì sơ sót. Đa tạ. - Nguyễn Phú
                            
>>>>>>>>>>>>>>>
BÀI 1: TỔNG QUÁT

  Ayurveda (tính từ là Ayurvedic) là nền y học cổ truyền của Ấn Độ mà nguồn gốc  có thể lên đến 5000 năm tuổi. Nền y học độc đáo này tập trung nhiều hơn vào cuộc sống khỏe mạnh hơn là điều trị bệnh. Về mặt từ nguyên, Ayurveda là sự kết hợp của hai từ tiếng Phạn AYUR – SỰ SỐNG và VEDA – KIẾN THỨC ; nên có thể dịch Ayurveda là “ Kiến Thức Về Sự Sống”. Những ý niệm đầu tiên về Ayurveda được ghi nhận trong Athartaveda- một trong bốn bộ Veda chứa đựng toàn bộ trí tuệ và văn hoá của  Ấn Độ cổ đại.

 Ayurveda chia thành 8 chuyên ngành, gọi là ASHTANGAS:


1. Kaya Chikitsa (Nội Khoa): “Kaya” có nghĩa là cơ thể người sống. Điều trị này bao gồm tất cả các bệnh nằm trong cơ thể.
2. Shalya Tantra (Phẫu thuật): Mô tả về các thủ tục trước khi phẫu thuật, thủ tục chung, thủ tục sau phẫu thuật, gây mê và các điểm yếu. Phần này cũng mô tả về các loại băng, dụng cụ sắc nhọn, dụng cụ cùn và chỉ khâu.
3. Bhuta Vidya (
Tâm thần): chữa bệnh tinh thần.
4. Shalakya Tantra (Điều trị các bệnh trên xương đòn): 
Đây là một nhánh của khoa tai mũi họng và nhãn khoa.
5. Agada Tantra (
Độc chất): điều trị ngộ độc thực phẩm, rắn cắn, côn trùng cắn, chó cắn vv
6. Kaumarabhritya Tantra (
Nhi khoa): sức khỏe và các bệnh liên quan đến trẻ em.
7. Vajikarana (
Thanh lọc cơ thể): Các liệu pháp thanh lọc cơ thể như: massage, liệu pháp dầu, liệu pháp sữa, liệu pháp dược thảo…
8. Rasayana Tantra (
Vệ sinh phòng dịch): phòng chống dịch bệnh và cải thiện khả năng miễn dịch và trẻ hóa.

Có ba văn bản Ayurved
a chính là Charak Samhita, Sushrut Samhita và Ashtangha Hridaya Samhita. Sushrut Samhita, chứa đựng lời dạy của Sushruta (sư tổ Ayurveda của Ấn Độ) chứa 184 chương và mô tả của 1.120 bệnh, 700 cây thuốc, 64 chế phẩm từ nguồn khoáng sản và 57 nguyên liệu từ nguồn động vật. Charaka Samhita, được viết bởi Charaka được cho là tài liệu tham khảo kinh điển chính, cung cấp cho sự nhấn mạnh đến 3 đặc tính của mỗi người: thể xác, thần kinh và tâm thức. Tác phẩm thứ ba Ashtanga Hridaya thực chất là một phiên bản ngắn gọn về các tác phẩm của Charaka và Sushruta.